Trình bày kết quả nghiên cứu sử dụng chất phủ bề mặt Siliconate Metyl Kali nhằm làm giảm độ hút nước và độ co nở kho khối xây AAC. Kết quả cho thấy, khi sử dụng chất phủ với tỷ lệ Siliconate Metyl Kali/Nước là 1:10 thì độ hút nước và độ giãn nở của tường AAC giảm rõ rệt tương ứng còn 34% và 1,65% khi phun mưa với lượng 400 mm.
Đề xuất phương án phân đoạn để thay đổi tiết diện cho khung nhà công nghiệp. Bên cạnh đó, các tiết diện tối ưu cho từng phân đoạn của một số khung nhà công nghiệp nhịp lớn thông dụng cũng đã được đề xuất. Các tiết diện này được lấy làm căn cứ cho việc chọn sơ bộ kích thước tiết diện khung thép trong bài toán thiết kế.
Bài viết đi sâu nghiên cứu, luận giải những đặc sắc về phê bình, tiểu luận của Huy Cận, nhằm góp phần định vị một cách chính xác, trọn vẹn hơn về tầm vóc một nhà thơ, một nhà văn hóa lớn của dân tộc.
Bài viết nhận diện giá trị về tài năng, địa vị, đóng góp của Huy Cận đối với nên văn học dân tộc qua cái nhìn đa diện, đa chiều, khách quan, khoa học của các nhà lý luận, phê bình văn học ở miền Nam. Xác định hệ giá trị cần được trân trọng, giữ gìn, phát huy đối với một thi tài của dân tộc – Nhà thơ, Nhà văn hóa Huy Cận.
Bài viết khái quát lịch sử văn học Việt Nam, từ điểm nhìn chủ nghĩa yêu nước và tinh thần chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền đất nước. Khẳng định nội dung yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, không một lúc nào ngừng nghỉ trong sự phát triển của nền văn học dân tộc.
Bài viết này nhằm mục đích đi tìm sự song hành giữa thơ Việt Nam hiện đại và thơ nước ngoài. Cho thấy cái quyết định giá trị của thơ không là Cũ hay Mới, bởi khi thời gian trôi đi, Cái Mới trở thành cũ. Điều quyết định là tài năng.
Bài viết mô tả tiến trình văn học dịch Việt Nam bao gồm cách tiếp cận, cách đánh giá, dịch thuật, phổ biến của một số nhà nghiên cứu văn học Việt Nam tại Nhật Bản, đặt trong bối cảnh ngành Việt học ở Nhật nhằm xác định vai trò của một bộ phận văn học dịch đối cới sự phát triển của Việt Nam học trong khu vực.
Trong bài viết này, tác giả nhấn mạnh tới căn tính và lịch sử hậu-thuộc địa, mang tính hồi cố về một dạng thức “căn tính văn bản” đã từng là dòng mạch xuyên suốt các tác phẩm văn chương thời xưa. Ngoài ra còn đề xuất khái niệm về quan hệ phụ tử/mẫu tử giữa các văn bản, từ đó nới rộng vai trò của tác giả cũng như tính nguyên gốc trong văn chương.
Bài viết phác họa một số nét cơ bản để làm nổi bật những đặc trưng ấy, đồng thời giả định rằng đó chính là những yếu tố cho phép nói đến mọt tư duy văn chương hư vô của Linda Lê.