Quỹ Đầu tư phát triển địa phương đã và đang trở thành một công cụ tài chính quan trọng giúp chính quyền địa phương tập trung nguồn lực đầu tư vào kết cấu hạ tầng, bao gồm huy động vốn và liên kết với khu vực tư nhân. Hiện nay kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Thời gian qua Chính phủ luôn khuyến khích các địa phương chủ động huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, góp phần tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, thúc đẩy kinh tế - xã hội. Trong đề tài này tác giả thực hiện phân tích thực trạng về huy động vốn, từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Long An trong thời gian tới.
Long An là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 4.491km2. Tỉnh lỵ của Long An hiện nay là thành phố Tân An, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50km theo Quốc lộ 1. Long An nằm trong vung kinh tế trọng điểm phía Nam và là cửa ngõ nối liền Đông Nam bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, được đánh giá là tỉnh có môi trường đầu tư hấp dẫn, là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với xu hướng phát triển kinh tế là số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng nhanh, bên cạnh những doanh nghiệp có nguồn vốn trong nước còn có doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài, những doanh nghiệp này đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế cho tỉnh nhà. Song song với sự phát triển đó, để đàm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước theo tiêu chí của ngành thuế “thu đúng, thu đủ, kịp thời” thì người nộp thuế và hệ thống kiểm soát thuế cùng nhau thực hiện việc tuân thủ thuế theo đúng quy định thông qua các văn bản chính sách thuế và tình hình hoạt động kinh doanh thực tế tại doanh nghiệp. Nguồn thu thuế từ Cục Thuế tỉnh Long An chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước của tỉnh nhà. Do chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố tác động nên ở hầu hết các địa phương nguồn thu này thường biến động rất phức tạp đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ để tránh thất thu cho Ngân sách Nhà nước. Nhận thấy được sự phức tạp này nên tác giả tiến hành nghiên cứu để tài “Hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Long An”.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tài chính tại Bộ đội Biên phòng tỉnh Long An, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng trong giai đoạn mới. Dựa vào các hệ thống lý luận cơ bản về quản lý tài chính và các phương pháp khảo sát, tác giả phân tích, đánh giá chất lượng quản lý tài chính ở đơn vị dự toán Quân Đội. Đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tài chính ở Bộ đội Biên phòng tỉnh Long An.
Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu là tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An từ việc phân tích thực trạng hoạt động này. Bảo hiểm y tế đã tạo ra nguồn tài chính công quan trọng cho công tác khám chữa bệnh, cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Nhân dân và đảm bảo an sinh xã hội. Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cụ thể đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An và một số đề xuất, kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan chức năng trong Tỉnh Long An.
Nhằm quản lý chặt chẽ, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính Nhà nước, đồng thời, phát huy cao mọi nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 và Kế hoạch phát triển của hệ thống Kho bạc Nhà nước giai đoạn 2017–2020 được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin và hình thành kho bạc điện tử. Trên cơ sở triển khai từng bước thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ về kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước phấn đấu thực hiện kiểm soát chi điện tử qua dịch vụ công trực tuyến. Qua phân tích nghiên cứu từ thực tiễn của việc kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước huyện Tân Thạnh-tỉnh Long An, bài viết đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên từ nguồn Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, hướng tới mục tiêu cải cách hành chính, cải cách các thủ tục pháp lý và hiện đại hóa công nghệ hướng tới kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước điện tử trên địa bàn toàn tỉnh Long An nói chung và huyện Tân Thạnh nói riêng.
Bài viết phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng thương mại quốc tế chủ yếu trên cơ sở so sánh quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 với các điều ước quốc tế bổ biến liên quan, từ đó đưa ra đánh giá và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về việc giới hạn quyền lựa chọn hệ thống pháp luật của các bên trong hợp đồng cũng như xác định hệ thống pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất một cách hợp lý.
Chi thường xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước. Chi thường xuyên đã giúp cho bộ máy Nhà nước duy trì hoạt động bình thường của mình để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước, là công cụ ổn định chính trị xã hội, quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên trong những năm qua tình trạng buông lỏng quản lý, vì phạm các nguyên tắc trong quản lý sử dụng nguồn ngân sách dẫn đến nhiều khoản chi chưa thật sự hiệu quả còn khá phổ biến làm thất thoát ngân sách. Với ý nghĩa trên việc thực hiện cơ chế kiểm soát chi đã góp phần quan trọng trong việc sử dụng ngân sách Nhà nước ngày càng hiệu quả, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển theo định hưởng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân giữ một vị trí khá quan trọng, là nơi đóng góp nguồn thu không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước, là nơi thu hút một lực lượng lao động tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Bài viết nhằm đánh giá những kết quả đạt được của kinh tế tư nhân trong thời gian qua, những tồn tại hạn chế cần được khắc phục. Trong đó lĩnh vực tín dụng ngân hàng đối với kinh tế tư nhân cần được tiếp tục quan tâm nhằm góp phần cho sự phát triển của kinh tế tư nhân. Phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bằng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm nghiên cứu trường hợp, phỏng vấn sâu, kết hợp với tổng thuật các nguồn tài liệu thứ cấp, bài báo đã hệ thống hoá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI gắn với nghiên cứu và phát triển (R&D) của các công ty Nhật Bản vào Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI gắn với R&D của các công ty Nhật Bản vào Việt Nam, bao gồm các nhóm yếu tố từ phía Việt Nam: khả năng đổi mới sáng tạo quốc gia, kinh tế - xã hội, khung thể chế, các ƯU đãi; các nhóm yếu tố từ bản thân các công ty Nhật Bản: khả năng tuyển dụng, năng lực của chi nhánh Việt Nam, đặc trưng của dự án R&D. Mô hình này sẽ là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu đánh giá định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI gắn với R&D của các công ty Nhật Bản vào Việt Nam, đồng thời là cơ sở để đề xuất các hàm ý chính sách trong lĩnh vực này.
Singapore – nền kỉnh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công, sở hữu một môi trường kinh tế mở cửa và không có tham nhũng, giá cả ổn định và thu nhập bình quân đầu người cao hơn so với hầu hết các nước phát triển khác - kết quả của việc áp dụng các chính sách kinh tế phù hợp do Chính phủ đề xuất. Không chỉ đơ thuần trình bày bối cảnh kinh tế của Singapore, bài viết tập trung đánh giả tổng quan một số chính sách kinh tế của quốc gia này trong giai đoạn 2010 - 2015, gợi ý bài học kinh nghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam trên con đường phát triển.