CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Mức giá sẵn lòng trả cho chương trình bảo tồn hệ sinh thái rừng u minh của người dân thành thị tỉnh Kiên Giang / Huỳnh Việt Khải, Nguyễn Phi Vân, Phan Thị Thiên Nhi // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 125-134 .- 658
Bài viết này có thể hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chính sách quản lý đất ngập nước hiệu quả và bền vững trong rừng U Minh và cung cấp thông tin để ước tính thiệt hại phúc lợi do giảm hệ sinh thái và phân tích sự đánh đổi giữa đa dạng sinh học và kinh tế. Phương pháp thí nghiệm lựa chọn (Choice Experiment) được sử dụng để ước tính mức giá sẵn lòng trả của người dân thành thị ở tỉnh Kiên Giang đối với chương trình bảo tồn hệ sinh thái (HST) rừng U Minh. Hàm hữu dụng gián tiếp và mức sẵn lòng chi trả cho các thuộc tính bảo tồn hệ sinh thái đã được áp dụng bằng cách sử dụng phương pháp mô hình hóa lựa chọn với phân tích mô hình logit đa thức. Nghiên cứu cho thấy người dân thành thị ở tỉnh Kiên Giang chấp nhận sẵn sàng trả thêm 1.350 đồng thông qua hóa đơn tiền nước hộ gia đình hàng tháng để có thêm 1% thảm thực vật khỏe mạnh, 1.120 đồng cho việc giảm 1% số người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí, 15.236 đồng cho việc tăng cơ hội nghiên cứu giáo dục cho thế hệ tương lai ở mức cao và 214 đồng cho một người nông dân được đào tạo lại.
2 Nghiên cứu đặc tính và hành vi qua đường của người đi bộ tại nút giao thông có đèn tín hiệu ở thành phố Hồ Chí Minh / Đoàn Hồng Đức // Khoa học Công nghệ Giao thông Vận tải .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 39-45 .- 621
Bài báo này bước đầu tập trung phân tích đặc tính và hành vi qua đường của người đi bộ như: Tốc độ qua đường, hành vi tuân thủ đèn tín hiệu và sự tương tác giữa người đi bộ với phương tiện giao thông cơ giới. Số mẫu khảo sát gồm 503 người đi bộ được trích xuất từ dữ liệu camera tại hai nút giao thông có đèn tín hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Tốc độ di chuyển và các yếu tố ảnh hưởng đến việc di chuyển của người đi bộ được kiểm định bằng các mô hình thống kê, nhằm đảm bảo độ tin cậy. Kết quả đầu ra cho thấy rằng sự thay đổi tốc độ người đi bộ là khác nhau trong các trường hợp di chuyển một mình, di chuyển theo nhóm, nhóm độ tuổi và tác động của các phương tiện cơ giới. Các thông số đầu ra của nghiên cứu là cơ sở khoa học có ý nghĩa bước đầu cho việc đề xuất các giải pháp an toàn cho người đi bộ, phát triển mô hình tính toán, cũng như mô hình mô phỏng người đi bộ trong điều kiện giao thông hỗn hợp nhiều xe máy như TP.HCM trong tương lai.
3 Nghiên cứu sử dụng xỉ thép tái chế gia cố xi măng làm lớp móng đường ô tô / Mai Hồng Hà // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 46-53 .- 624
Qua các nghiên cứu [5-10], xỉ thép từ lò điện hồ quang không phải là chất thải nguy hại theo Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định [1], nó là chất thải thông thường, được quản lý theo TCVN 6705:2009 [2]. Nếu không có giải pháp tái sử dụng nguồn xỉ thép này thì việc bảo quản sẽ tốn rất nhiều chi phí và lãng phí quỹ đất để lưu trữ. Bài báo này trình bày vắn tắt kết quả nghiên cứu giải pháp sử dụng xỉ thép tái chế từ các nhà máy luyện thép khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (BRVT), gia cố xi măng để làm móng đường ô tô. Các chỉ tiêu thử nghiệm, đánh giá như đối với vật liệu cấp phối đá dăm gia cố xi măng: Cường độ chịu nén (Rn), cường độ ép chẻ (Rech) và mô đun đàn hồi vật liệu (E). Đây là các chỉ tiêu cơ bản phục vụ cho công tác thiết kế, thi công và nghiệm thu lớp móng đường ô tô sử dụng vật liệu gia cố xi măng.
4 Hủy thể tính – bản năng chết trong tác phẩm Lại chơi với lửa của Linda Lê / Sity Maria Cotika // Nghiên cứu văn học .- 2019 .- Số 8 (570) .- Tr. 101-108 .- 895
Bài viết đưa ra một hướng tiếp cận văn bản sáng tác văn học của Linda Lê thông qua dẫn giải của học thuyết Phân tâm học.
5 Nghiên cứu ứng dụng của hệ thống gió trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu của hệ thống vận tải đường sông đồng bằng sông Cửu Long / Nguyễn Minh Đức // Khoa học Công nghệ Giao thông Vận tải .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 60-64 .- 624
Theo số liệu dự báo của Viện Chiến lược phát triển giao thông vận tải, vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đến năm 2020 hệ thống giao thông đường thuỷ nội địa sẽ vận chuyển khoảng 36 triệu tấn, chiếm tỷ trọng hơn 33% khối lượng hàng hoá vận chuyển toàn vùng. Sự thay đổi khí hậu đã và sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng về vận tải đường sông.Trong nghiên cứu trước đây, nhóm các tác giả của dự án nghiên cứu cấp Bộ tại Bộ Giao thông vận tải [1] đã khảo sát trên 7 tuyến đường sông chính ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Một mô hình thủy lực với điều kiện biên tại khu vực bờ biển đã được tạo ra và cung cấp kết quả là mực nước ở các vị trí của bảy con sông vào năm 2020 - 2100. Dựa trên các kết quả của mô hình thủy lực có thể dự đoán được cao độ của mực nước sông khi chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu (BĐKH) - mực nước biển dâng (SLR) trong các thời điểm trong tương lai. Trong nghiên cứu này tác giả đi sâu vào ứng dụng của Hệ thống Thông tin Địa lý (Geographics Information System - GIS) cho quản lý thông tin phục vụ ứng phó với BĐKH. Hệ thống thông tin địa lý (GIS) bao gồm nhiều lớp cơ sở dữ liệu trong đó có lớp cơ sở dữ liệu địa lý của các dòng sông, các lớp thông tin bao gồm cơ sở dữ liệu hạ tầng bị ảnh hưởng, như: Cầu, cảng và các lớp cơ sở dữ liệu thông tin cho mực nước. Hệ thống cơ sở dữ liệu sẽ là tiền đề cho các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trong đó có quản lý các dự án xây dựng cầu đường, kè, cảng trên các dòng sông.
6 Thực trạng giá nhóm cổ phiếu doanh nghiệp vận tải biển việt nam 2015 - 2018 / Huỳnh Chí Giỏi // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 72-79 .- 658
Bài báo muốn giới thiệu đến độc giả thực trạng biến động giá cả của nhóm cổ phiếu các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh. Hay còn gọi là sàn HOSE gồm các mã cổ phiếu PVT (Tổng CTCP Vận tải Dầu khí), VIP (CTCP Vận tải Xăng dầu VIPCO), VTO (CTCP Vận tải Xăng dầu VITACO), VOS (CTCP Vận tải biển Việt Nam), GMD (CTCP Gemadept) trong giai đoạn bốn năm từ năm 2015 đến năm 2018. Thông qua những phân tích từ tổng quan đến chi tiết dựa trên các biểu đồ phân tích kỹ thuật giá cùng với những phân tích cơ bản về tình hình vi mô của từng mã cổ phiếu và thực trạng vĩ mô, độc giả sẽ có cái nhìn sâu hơn về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sinh lời, hiệu quả sử dụng vốn mà còn tác động đến giá trị cổ phiếu của chính doanh nghiệp đó, cũng như sự tác động từ tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư đến biến động của thị giá kể cả cơ hội đầu tư nhóm cổ phiếu này.
7 Thực trạng và giải pháp cải thiện hoạt động logistics trong ngành sản xuất xi măng Việt Nam / Phạm Văn Tài // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 80-86 .- 658
Ngành sản xuất xi măng ở nước ta đã phát triển rất mạnh trong những năm qua và đứng hàng thứ 3 thế giới với công suất lắp đặt khoảng 148 triệu tấn/năm, được sản xuất bởi trên 80 nhà máy trên cả nước. Để phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ xi măng, các hoạt động logistics rất phát triển trong những năm qua, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Nghiên cứu này phân tích tình hình dịch vụ logistics trong ngành xi măng ở Việt Nam (VN) như thế nào, những ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân phát sinh trong dịch vụ logistics ngành công nghiệp xi măng là gì. Trên cơ sở phân tích đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị hoàn thiện các hoạt động logistics phục vụ ngành sản xuất xi măng của Việt Nam trong thời gian tới.
8 Thực trạng và giải pháp nguồn nhân lực du lịch đồng bằng sông Cửu Long / Trần Chánh Trung // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 87-92 .- 910
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong bảy vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Với những lợi thế về tự nhiên và con người, trong thời gian qua du lịch của vùng không ngừng được đầu tư phát triển. Trong quá trình phát triển du lịch, vấn đề con người luôn giữ vai trò hết sức quan trọng. Mặc dù được chú trọng đầu tư nhưng thời gian vừa qua nguồn nhân lực của vùng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng cũng như chất lượng, vấn đề này đã trở thành một trong những rào cản ảnh hưởng đến khả năng phát triển du lịch. Để cải thiện được chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với tiềm năng của vùng, xu thế phát triển du lịch của nước nhà cũng như trong hội nhập quốc tế, việc đưa ra những giải pháp và chính sách phát triển nguồn nhân lực là hết sức cần thiết, nếu giải quyết tốt vấn đề này có thể phát huy được hết tiềm năng du lịch vốn có của vùng cũng như đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
9 Giáo dục đại học với cách mạng công nghiệp 4.0 / Vũ Ngọc Lanh // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 93-98 .- 370
Cách mạng công nghiệp 4.0 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa, vật lý, sinh học với trung tâm điều khiển và khâu đột phá là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật, rô - bốt, công nghệ na-nô, công nghệ sinh học,… đem lại cho các quốc gia nhiều cơ hội để phát triển về mọi mặt, tuy nhiên nó cũng đặt ra nhiều thách thức, trước hết, cho ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học. Trên cơ sở phân tích sự tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0, bài viết đưa ra một số khuyến nghị với giáo dục đại học trong thời đại cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0.
10 Lối sống của doanh nhân và việc hoàn thiện các chế định bắt buộc / Nguyễn Hoàng Phương // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 105-110 .- 658
Để lối sống doanh nhân ngày càng hoàn thiện, nhà nước cần xây dựng những chuẩn mực mới về doanh nhân phù hợp với chuẩn mực xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Đó là những doanh nhân có ý chí vươn lên, có lòng tự tôn dân tộc, có năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập, có đạo đức trong kinh doanh; biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội; sống trong sạch, lành mạnh, quan hệ tốt với người lao động; tăng cường và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền để thay đổi nhận thức của xã hội đối với doanh nhân, cũng như tạo hình ảnh doanh nhân trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa, hướng doanh nhân không ngừng hoàn thiện mình để trở thành những doanh nhân chân chính. Các doanh nhân cần tích cực tham gia các hoạt động giữa doanh nhân với nhau, cởi mở trong giao tiếp, nâng cao tinh thần đoàn kết giữa các doanh nhân, loại bỏ tư tưởng lợi ích cá nhân, tham gia các chương trình đào tạo và đào tạo lại, bổ sung kiến thức chuyên môn, không ngừng học tập, tuân thủ và trau dồi thêm hiểu biết về luật pháp để tránh những sai phạm trong kinh doanh ảnh hưởng đến cá nhân, doanh nghiệp, đất nước, có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và phải biết quản lý và có tầm nhìn chiến lược, phải có sự sáng tạo riêng, tạo sự khác biệt, đam mê, ổn định trong tư duy và nhạy bén trong hành động. Doanh nhân có tầm phải là người tổ chức được bộ máy, dùng được nhân sự và điều hành hiệu quả. Nhìn chung, lối sống tốt chính là nền tảng cho sự phát triển trong công việc cũng như bộ mặt của xã hội, vì thế một thế hệ doanh nhân tốt cũng là biểu trưng cho một xã hội phát triển, văn minh và tiến bộ đồng thời hoàn thiện định chế bắt buộc nhằm đóng góp nhiều cho đất nước và xã hội.