Nghiên cứu kiểm định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS điều trị tại các phòng khám ngoại trú tại thành phố Hồ Chí Minh, bằng việc khảo sát 296 bệnh nhân. Phương pháp phân tích Cronbach's Alpha, phân tích EFA cùng với phân tích hồi quy bội được sử dụng với phương tiện SPSS. Kết quả cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của bệnh nhân theo tầm quan trọng giảm đần; Năng lực phục vụ, Sự tin cậy, Hiệu quả hoạt động, Sự đồng cảm và phương tiện hữu hình. Nghiên cứu đề ra một số hàm ý quản trị cho các nhà quản lý các phòng khám nhằm nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân.
Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ngày càng gia tăng. Trước đây các phương pháp truyền thống đã giải quyết được vấn đề xử lý ô nhiễm trong nước mặt để cấp nước sinh hoạt và ăn uống. Sơ đồ công nghệ truyền thống chủ yếu là làm trong nước kết hợp nước có độ oxy hóa cao thì kết hợp cho hóa sơ bộ để xử lý các chất ô nhiễm này.
Cứ 1m3 bùn thải trong trạm xử lý nước thải có thể tạo ra 15m3 biogas và 90 kW năng lượng, đây là một nguồn năng lượng hữu ích và có thể thu hồi để cung cấp cho bản thân trạm xử lý nước thải. Phân hủy bùn kị khí là một giải pháp để xử lý bùn thải trong các trạm xử lý nước thải, đồng thời cũng là phương pháp tận dụng được năng lượng. Khí biogas sinh ra trong quá trình xử lý bùn bằng phương pháp này sẽ được thu hồi và cung cấp năng lượng trở lại cho trạm xử lý sẽ tiết kiệm được một phần chi phí vận hành. Để nâng cao hiệu quả tạo khí biogas của quá trình phân hủy kị khí bùn thải từ các trạm xử lý nước thải của hệ thống thoát nước chung, cụ thể tại trạm xử lý nước thải Yên Sở, giải pháp được đưa ra bao gồm: giải pháp về mô hình cân bằng vật chất trong trạm xử lý hướng tới thu hồi năng lượng và các giải pháp tăng hiệu quả cho công trình thu hồi khí sinh học. Đối với giải pháp về hiệu quả công trình, ngoài các biện pháp cải thiện kỹ thuật, điều kiện vận hành của công trình hiện tại, còn bổ sung trực tiếp chất thải hữu cơ bền ngoài nhằm tăng hàm lượng khí sinh học thu hồi.
Thị trường bia của Việt Nam đang có một tốc độ phát triển tương đối cao và ổn định, với nhiều sản phẩm bia của các hãng khác, đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng trong việc quyết định lựa chọn sản phẩm nhưng cũng tạo không ít khó khăn cho các nhà quản trị của các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm bia, nhất là tại thị trường Hà Nội. Thông qua bài báo này, bằng việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sản phẩm người tiêu dùng tại thị trường Hà Nội, tác giả đưa ra một số đề xuất và kiến nghị giúp các nhà quản trị của các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm bia có những lựa chọn phù hợp trong quá trình kinh doanh.
Cơ cấu vốn là một những vấn đề quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp. Mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp là có khả năng sinh lời cao đồng thời phải đảm bảo được khả năng thanh toán tốt. Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của cơ cấu vốn (tỷ lệ nợ vay) tới khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm để từ đó rút ra một số đề xuất cho doanh nghiệp trong hoạt động quả trị tài chính. Nghiên cứu đã chỉ ra giữa khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và tỷ lệ nợ vay của doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2016 có mối tương quan âm khá chặt chẽ.
Nghiên cứu năng lực kinh doanh thương mại của đơn vị sản xuất kinh doanh nông phẩm là một điều quan trọng để có thể đề ra những chính sách trợ giúp tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển trong tương lai. Trong nội dung bài báo này, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu, đánh giá năng lực cạnh tranh của các cơ sở kinh doanh nông phẩm trên địa bàn tỉnh Điên Biên. Thông qua đó, với những dữ liệu thu thập được từ điều tra xã hội học, tác giả tiến hành phân tích kiểm định để có thể khẳng định mô hình nghiên cứu trong thực tiễn trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Bài báo sử dụng số liệu thống kê để phân tích đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1998 - 2017 cả về những thành công và hạn chế, tồn tại và đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng ĐTNN trong giai đoạn tới đây.
Thiểu năng tuần hoàn não là một bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là ở người cao tuổi. Tỷ lệ mắc thiểu năng tuần hoàn não rất cao, theo thống kê khoảng 2/3 người cao tuổi mắc bệnh này, chiếm 9-25% tổng số các tai biến mạch máu não. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, người bị thiểu năng tuần hoàn não ở các nước chiếm từ 0,2% đến 2,5% dân số. Tỷ lệ tử vong của bệnh mạch máu não chiếm 12-14% so với tỷ lệ tử vong chung.
Kiều hối đã và đang là nguồn tài chính quan trọng cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Những năm gần đây, Việt Nam liên tục nằm trong top những quốc gia nhận kiều hối lớn trong khu vực và thế giới (World Bank 2017). Đã có nhiều nghiên cứu về tác động vĩ mô của kiều hối bao gổm cả những tác động tích cực và tiêu cực. Vì vây mục đích của nghiên cứu này là xem xét kiều hối tác động như thế nào đến tăng trưởng GDP của Việt Nam trong gần 3 thập kỷ qua. Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy OLS với số liệu chuỗi thời gian từ năm 1991 đến năm 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tiêu cực của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong dài hạn. Nghĩa là khi tỷ lệ kiều hối càng tăng thì làm giảm tăng trưởng GDP của Việt Nam và ngược lại. Kết quả nghiên cứu này khác với lý thuyết và thực nghiệm nghiên cứu của một số nghiên cứu các nước khác. Điều này có thể được giải thích bằng hiện tượng “Căn bệnh Hà Lan”.
Xác định ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin (CBTT) đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số liệu nghiên cứu là số liệu dạng bảng được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty và tài liệu công bố công khai có liên quan của 484 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2014-2016. Sử dụng phương pháp pháp ước lượng Two Stage Least of Square và Generalized Methods of Moments, kết quả nghiên cứu cho biết mức độ minh bạch và CBTT của công ty niêm yết có tương quan thuận với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA); tỷ lệ sở hữu quản trị và tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tương quan thuận với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu; trong khi đòn bẩy tài chính có tương quan nghịch với tỷ số ROE và ROA.