Bài thuốc thông xoang HV gồm 5 vị (Ngư tinh thảo; Kinh giới tuệ, Tô tử, La bạc tử và Kim ngân hoa) để điều trị viêm mũi xoang mạn tính. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá độc tính cấp và tác dụng kháng khuẩn của bài thuốc.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm định tính thành phần hóa học cũng như khả năng kháng oxy hóa của cao chiết diệp hạ châu, với nguồn nguyên liệu được thu hái ở xã Huyền Hội, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Kết quả định tính trên cao methanol và cao hexan Diệp hạ châu bằng phương pháp chiết ngâm dầm cho thấy sự hiện diện của một số hợp chất thiên nhiên, gồm: Alkaloid, flavonoid, steroid và triterpenoid, tannin, glycoside, saponin. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chứng minh hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết methanol và hexan với giá trị IC50 (Half-Maximal Inhibitory Concentration) lần lượt là 21.894µg/mL, 60.226µg/mL, cho thấy tiềm năng mở rộng ứng dụng cây Diệp hạ châu trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe.
Trình bày vai trò của các DNNVV cung cấp dịch vụ kế toán – kiểm toán và tiềm năng phát triển của thị trường này, qua đó đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp cung ứng dịch vụ kế toán – kiểm toán trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam.
Các hạt nano bạc được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như kháng khuẩn, điện tử, quang học đã thu hút được sự chú ý đáng kể của các nhà khoa học. Trong nghiên cứu này, các hạt nano bạc được tổng hợp bằng phương pháp xanh sử dụng dịch chiết từ lá dừa cạn (Catharanthus roseus) và hoa bồng bồng (Calotropis gigantea) làm tác nhân khử ion bạc có trong dung dịch bạc nitrate. Các hạt nano bạc tạo ra trong dung dịch phản ứng được theo dõi bằng máy quang phổ UV-Vis và kính hiển vi điện tử truyền qua (Transmmission electron microscopy - TEM) và đánh giá khả năng kháng lại vi khuẩn E.Coli và V.Parahaemolyticus. Kết quả cho thấy, hạt nano bạc được tổng hợp có kích thước từ 10 - 30nm với tác nhân khử là dịch chiết lá Dừa cạn, từ 5 - 20nm với tác nhân khử là dịch chiết hoa bồng bồng. Dung dịch nano bạc tạo thành có khả năng kháng cả E.Coli và V.Parahaemolyticus.
Bài viết khảo sát một số hoạt tính sinh học In Vitro và quy trình tách chiết hoạt chất từ lá cây cù đề (Burm.f.) C.E.C. Fischer. Kết quả cho thấy cao ethyl acetate cho hoạt tính kháng oxy hóa cao nhất [IC50 (µg/mL) = 86.5 ± 0.5 so với IC50 = 11.3 ± 0.0 của vitamin C], trong khi cao n-butanol ức chế tyrosinase mạnh nhất [IC5Q (pg/mL) = 650 ±10 so với IC50 = 85 ± 1.5 của arbutin]. Bên cạnh đó, bài viết còn xây dựng quy trình chiết cao sử dụng dung môi ethanol (chiết 2 lần với 7g nguyên liệu ban đầu, dung môi ethanol/nước tỉ lệ 1:1, tỷ lệ Mnguyên Iiệu: Vdung môi = 1:5 g/mL, chiết ở 50°C trong thời gian 30 phút). Loại màu dịch chiết bằng phương pháp tạo tủa với Ca (OH)2 ở 0°C. Hiệu suất quá trình loại màu đạt 46.88%.
Tăng trưởng kinh tế và những tác động xấu đối với môi trường; xử lý các nguy cơ đe dọa môi trường - cần sự quyết liệt đồng bộ và mang tính toàn cầu; phát huy vai trò đòn bẩy trong kiểm soát môi trường sinh thái.
Đề cập đến đặc trưng của phát triển kinh tế, cơ hội và thách thức đối với ngân hàng Việt trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và hàm ý chính sách.
Cùng với sự phát triển của các lĩnh vực đời sống xã hội, mô hình bệnh tật cũng thay đổi. Xã hội hiện đại ngày càng phát triển, tỉ lệ mắc các bệnh chuyển hóa ngày càng gia tăng. Rối loạn chuyển hóa lipid là danh từ dùng để miêu tả một hội chứng mạn tính được đặc trưng bởi sự thay đổi các chỉ số lipid trong máu.