Phân tích luật Việt Nam về điều ước quốc tế và đưa ra một số khuyến nghị để đối phó với nguy cơ xung đột giữa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Quy trình dựa trên nghiên cứu của Koichi Imaoka và cộng sự, được tối ưu hóa để xác định đồng thời bốn loài vi khuẩn Brucella phổ biến và protein mảng ngoài (omp2b, omp2a và omp31) được sử dụng. Kết quả cho thấy bằng cách thay đổi nhiệt độ gắn mồi, thời gian biến tính, kéo dài và tăng chu kỳ của phản ứng đã giúp quy trình PCR tổ hợp được tiến hành với điều kiện tối ưu hơn. Sự xuất hiện sản phẩm PCR tổ hợp của bốn cặp mồi là cơ sở để phát hiện các loài vi khuẩn Brucella như sau: B. abortus (B4/B5 và JPF/JPR-ab), B. canis (B4/B5, JPF/JPR-ac và 1A/1AS); B. melitensis (B4/B5, JPF/JPR-ab và 1A/1AS) và B. suis có sản phẩm của cả bốn cặp mồi. Sản phẩm PCR tổ hợp từ việc pha loãng chủng chứng dương Brucella abortus bất hoạt vào mẫu sữa bò cũng cho thấy khả năng ứng dụng phương pháp này vào trong chẩn đoán sớm Brucella ở đàn bò sữa. Việc phát triển phương pháp PCR tổ hợp phát hiện vi khuẩn Brucella là rất cần thiết để có thể chẩn đoán sớm bệnh ở người cũng như ở gia súc để kịp thời ngăn chặn sự lây lan ra cộng đồng qua tiếp xúc cũng như qua thực phẩm.
Xác định độ tin cậy test elisa phân so với test thở trong việc chẩn đoán viêm dạ dày, tá tràng do H. Pylori. Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên 112 bệnh nhi được chẩn đoán viêm loét dạ dày tá tràng nghi do H. Pylori tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2016. So sánh test elisa phân với test thở trong việc xác định nhiễm H. Pylori ở bệnh nhi viêm dạ dày, tá tràng cho thấy độ nhạy là 99,9%, độ đặc hiệu 90%, AUC là 0,894, giá trị dự đoán dương tính 94,1%, giá trị dự đoán âm tính là 81,8%.
Đánh giá kết quả sử dụng kỹ thuật siêu phẫu nối bạch mạch tĩnh mạch trong điều trị phù bạch mạch ở bệnh nhân sau phẫu thuật cắt bỏ vú do ung thư kết hợp vét hạch và xạ trị. Kết quả: nhóm I các tổn thương hầu như không có hoặc ít và mức độ tổn thương nhẹ, nhóm II; xuất hiện tất cả tổn thương trên: xơ hóa da, mô dưới da mức độ vừa và nặng gặp ở tất cả các trường hợp. Một số trường hợp nặng (giai đoạn V) mất toàn bộ lớp cơ trơn của thành bạch mạch. Kích thước giảm tại các vị trí mổ của chi sau 1 tuần: V1: 6,44+-0,41cm; V2: 5,09+-0,47 cm; V3: 6+-0,52. Giảm mạnh nhất tại V1 là 6cm. Số lượng cầu nối: Trung bình 3,44 cầu nối/ bệnh nhân. Đường kính mạch: nhỏ nhất: 0,3mm; lớn nhất:1 mm, trung bình: 0,66+-0,11 mm. Kết quả gần: tốt 91,67%; vừa 8,33%. Kết quả xa: tốt 93,33; vừa 6,67%. Kết luận: Phương pháp nối bạch mạch - tĩnh mạch với kết quả bước đầu tốt, tình trạng lâm sàng được cải thiện rõ ràng. Đây là kỹ thuật mới, an toàn, khả thi trong điều trị phù bạch mạch sau điều trị ung thư vú.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn lactic từ ruột cá rô phi, cá chẽm và cá dìa nuôi thương phẩm tại Thừa Thiên Huế, có khả năng kháng vi khuẩn Streptococcus iniae gây bệnh xuất huyết trên cá chẽm. Đã phân lập được 61 chủng vi khuẩn lactic. Các chủng vi khuẩn này đều là vi khuẩn Gram dương, hình que hoặc hình cầu, không hình thành bào tử, không di dộng, phản ứng catalaza và oxidaza âm tính, có khả năng phân giải CaCO3 và không làm tan chảy gelatin. Trong 61 chủng vi khuẩn lactic phân lập được, có 28 chủng có khả năng kháng Streptococcus iniae, trong đó có 3 chủng C21, D1, D7 có khả năng kháng mạnh. Kết quả định danh 3 chủng C21, D1 và D7 bằng phương pháp giải trình tự gien xác định 3 chủng trên có trình tự nucleotit của đoạn gien 16S rARN tương đồng cao (100%) với trình tự nucleotit đoạn của gien 16S rARN của các chủng vi khuẩn Lactobacillus fermentum-MF108806.1, Lactobacillus fermentum-MF108743.1, Lactobacillus fermentum MF108772.1 trên ngân hàng gien. Dựa vào cây phát sinh thể hiện mối quan hệ di truyền thì các chủng C21, D1, và D7 là Lactobacillus fermentum.
Các ao nuôi theo mô hình VAC ở miền Bắc Việt Nam được biết là điểm nóng của việc lan truyền bệnh sán lá có nguồn gốc thực phẩm. Nghiên cứu theo thời gian được thực hiện tại 4 tỉnh: Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Thanh Hóa nhằm điều tra về thực trạng nhiễm ấu trùng sán lá cercariae ở ốc trong ao tại các điểm nghiên cứu này. Ốc được thu từ 99 ao, gồm 18 ao cá thịt và 81 ao cá giống phục vụ nghiên cứu. Đã xét nghiệm 26.464 mẫu ốc của 13 loài theo phương pháp thải vỏ lột. Sự nhiễm ấu trùng sán lá được phát hiện ở 32/99 ao, gồm 9 ao cá thịt (50%) và 23 ao cá giống (28,4%) bao gồm 5 nhóm cercariae khác nhau. Chỉ 5 loài ốc được phát hiện thải cercariae , gồm: M.tuberculata, S. riquetii, T. granifera, L. swinhoei và B.fuchsiana. Sự khác biệt về thành phần loài ốc, số lượng ốc của từng loài, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa các địa điểm nghiên cứu, loại ao nghiên cứu, giữa các loài ốc với nhau. Ao cá của mô hình VAC tiếp tục là điểm nóng của việc truyền bệnh sán lá , bất kỳ chiến lược nào sử dụng để kiểm soát bệnh sán lá cũng cần phải chú ý tới sự tồn tại của các loài ốc nước ngọt trong ao nuôi thủy sản cũng như trong môi trường tự nhiên.
Ký sinh trùng đơn bào Perkinsus olseni là một tác nhân gây chết hoàng loạt và nghiêm trọng cho nhiều loại động vật thân mềm hai mảnh vỏ tại nhiều quốc gia trên thế giới. Việc tìm ra các phương thức lây truyền cũng như biện pháp phòng ngừa và điều trị là cần thiết để giảm thiểu thiệt hại do chúng gây ra. Nghiên cứu này đã tiến hành đánh giá khả năng điều trị ký sinh trùng P.olseni bằng Desferrioxamine. Kết quả các thí nghiệm đã cho thấy P.olseni có thể lây truyền giữa các cá thể cùng loài và các cá thể khác loài. Desferrioxamine ở liều lượng 15 và 30 mg/L bước đầu cho thấy có khả năng làm giảm cường độ nhiễm P.olseni ở nghêu Bến Tre.
Thử nghiệm Kit CATT để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho trâu tại tỉnh Tuyên Quang, kết quả cho thấy Kit CATT có độ nhạy của phản ứng là 100%, độ đặc hiệu là 98,68%. So sánh hiệu quả của sử dụng kỹ thuật Kit CATT với kỹ thuật ELISA, PCR và tiêm truyền chuột nhắt trắng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng cho thấy, phương pháp tiêm truyền chuột phát hiện 100% số trâu nhiễm hoặc không nhiễm tiên mao trùng, kỹ thuật PCR có độ nhạy là 100% và độ đặc hiệu là 98,35%, kỹ thuật ELISA có độ nhạy là 98,48% và độ đặc hiệu là 97,11%, Kit CATT có độ nhạy là 98,48% và 97,52%.
Nghiên cứu bào chế viên nén kết hợp paracetamol, aspirin, cafein. Viên nén kết hợp paracetamol, aspirin, cafein được bào chế bằng phương pháp dập thẳng. Viên bào chế đã được đánh giá ảnh hưởng của các thành phần công thức tới đặc tính của viên, khả năng giải phóng dược chất từ viên và độ ổn định. Loại và lượng tác dược dính và tá dược rã có ảnh hưởng nhiều nhất đến tính chất và khả năng giải phóng dược chất của viên.
Đánh giá tác dụng làm tăng phục hồi tổn thương gan của cao toàn phần và phân đoạn ethylacetat chiết xuất từ cây mũi mác trên mô hình gây viêm gan bằng paracetamol ở chuột nhắt trắng. Kết quả cho thấy mũi mác phân đoạn ethyl acetat liều 9,6g/kg và 28,8g/kg và mũi mác cao toàn phần liều 9,6g/kg và 28,8g/kg có tác dụng tăng phục hồi tổn thương gan cấp gây ra bởi paracetamol trên chuột nhắt trắng.