Trường phái Kinh tế học thể chế mới (New Instutional Economics - NIE) cho rằng các thể chế luật pháp, chính trị, xã hội có tác động quan trọng lên hoạt động kinh tế và một quốc gia muốn phát triển phải có được các “thể chế tốt” để thúc đẩy thị trường tự do như bảo vệ quyền tư hữu, bảo vệ sở hữu trí tuệ, ngân hàng trung ương độc lập... Tuy nhiên, Ha-Joon Chang không đồng ý với nhiều luận điểm này và chứng minh rằng các nước phát triển hiện nay trong quá trình phát triển ban đầu của họ thiếu rất nhiều "thể chế tốt” và nhà nước cũng can thiệp rất nhiều vào nền kinh tế bằng các chính sách bảo hộ thương mại nhưng họ vẫn phát triển nhanh. Bài viết đề cập đến vai trò của thể chế trong phát triển kinh tế và một số phản biện của Ha-Joon Chang.
Phân tích làm rõ 6 thách thức cơ bản của Việt Nam trong quản lý vĩ mô đôi với sự phát triển của nền kinh tế chia sẻ những năm gần đây. Cụ thể là: (i) thiếu một môi trường kinh doanh thuận lợi; (ii) tạo ra ẩp lực cạnh tranh rất lớn đối với các công ty kinh doanh dịch vụ truyền thống tại Việt Nam; (iii) khó khăn trong quản lý, kiểm soát các doanh nghiệp; (iv) khó quản lý thuế; (v) thiếu hụt nguồn lao động có trình độ và (vi) thiếu hụt cơ sở hạ tầng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứ này, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động quả lý vĩ mô của Nhà nước để tận dụng cơ hội nền kinh tế chia sẻ, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nước nhà nói chung. Đồng thời, bài viết cũng gợi ý các biện pháp ứng phó với những khó khăn, thách thức đối với hoạt động quản lý nền kinh tế chia sẻ hiện nay và trong tương lai.
Tiếp thị di động là kênh quảng bá hiện đại có khả năng thu hút sự quan tâm và phản hồi nhanh chóng từ khách du lịch hiện có và tiềm năng. Đối với sản phẩm khó đánh giá tước khi mua như dịch vụ du lịch, thì điện thoại di động góp phần quan trọng trong việc dễ dàng tìm kiếm thông tin và có thể sử dụng chúng mọi lúc, mọi nơi. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá như cầu sử dụng ứng dụng điện thoại để tìm thông tin của khách du lịch.
Những năm gần đây và nhất là 6 tháng đầu năm 2018, du khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao. Theo số lượng thống kê từ Tổng cục Du lịch Việt Nam, tính chung 6 tháng đầu năm 2018, Việt Nam đón gần 8 triệu lượt khách, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm 2017. Đây là những tín hiệu đáng mừng, song cũng cần nhận thức rõ nội hàm của du lịch, kinh tế du lịch. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản và sự tác động kinh tế - xã hội của ngành Du lịch nước ta, nhằm khai thác có hiệu quả hơn và hạn chế những tác động không tích cực đến kinh tế - xã hội của du lịch.
Bài viết nghiên cứu về hoạt động du lịch trực tuyến tại Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nghiên cứu 2 nội dung: đặc điểm khách du lịch và thực trạng du lịch trực tuyến tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động này trong thời gian sắp tới.
Đề tài được thực hiện với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua quảng cao của khách hàng tại Đài Truyền hình Thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức dựa trên kết quả khảo sát từ 300 mẫu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua quảng cáo của khách hàng, là: thương hiệu Đài Truyền hình, giá cả quảng cáo, chính sách hoa hồng, mối quan hệ giữa Đài Truyền hình và khách hàng, đặc điểm sản phẩm cần quảng cáo và tỷ lệ người xem chương trình (Rating). Yếu tố thương hiệu Đài Truyền hình có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định mua quảng cáo của khách hàng. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tất cả các yếu tố trong mô hình nghiên cứu có mối quan hệ tuyến tính dương với quyết định mua quảng cáo. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm thu hút mua quảng cáo của khách hàng tại Đài Truyền hình Thành phố Cần Thơ.
Bài viết tập trung nghiên cứu về tính đa dạng của hội đồng quản trị trong các công ty niêm yết sở hữu gia đình ở Việt Nam (gọi tắt là các công ty gia đình). Đó là tính đa dạng về cơ cấu thành viên hội đồng quản trị, về giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, tỷ lệ thành viên là người nước ngoài hay người Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy 3 yếu tô tác động cùng chiều đến kết quả tài chính của các công ty gia đình ở Việt Nam là: Tỷ lệ thành viên độc lập, tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị có trình độ học vấn từ đại học trở lên, nhóm yếu tố này có tỷ lệ càng cao thì kết quả tài chính càng lớn. Ngược lại độ tuổi của các thành viên hội đồng quản trị lại có tác động ngược chiều đến kết quả tài chính, còn tỷ lệ thành viên nước ngoài không ảnh hưởng đến kết quả tài chính của các công ty gia đình.
Trong môi trường làm việc liên tục thay đổi và không ổn định, khả năng của các cá nhân để điều chỉnh và thích ứng trong công việc là rất quan trọng cho sự thành công. Trong công việc, thích ứng với những thay đổi là khả năng thích ứng nghề nghiệp. Khả năng thích ứng nghề nghiệp là "thái độ, năng lực và hành vi mà mỗi cá nhân sử dụng để hòa hợp bản thân họ với công việc". Bằng phương pháp nghiên cứu định tính tại bàn, bài báo tập trung làm rõ định nghĩa, các yếu tố tiền đề cũng như các yếu tố hệ quả của khả năng thích ứng nghề nghiệp. Bài báo cũng tổng hợp các nghiên cứu trước đây về các mô hình nghiên cứu các yếu tố tiền đề tác động đến khả năng thích ứng nghề nghiệp, bao gồm các nhóm yếu tố thuộc về cá nhân, nghề nghiệp và tổ chức và các yếu tố hệ quả của khả năng thích ứng nghề nghiệp như kỹ năng, niềm tin và chiến lược liên quan đến nghề nghiệp, cũng như kết quả cuộc sống và công việc.
Bài báo này kiểm định tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc và kiểm định tác động của sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc đến kết quả công việc của các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định bằng phần mềm SmartPLS3 với 270 mẫu khảo sát từ các nhà quản trị cấp trung và cấp cơ sở đang làm việc tại các doanh nghiệp tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị chi phí có tác động dương đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc; (2) Sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc có tác động dương đến kết quả công việc. Bài báo đã đưa ra một số hàm ý lý thuyết và hàm ý quản lý cho các doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm làm tăng kết quả công việc cho các nhà quản trị.
Nghiên cứu này được thực hiện với các mục tiêu trọng tâm là: (1) Xác định các yếu tố và xây dựng mô hình nghiến cứu các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý cấp phát quân trang tại Cục H44; (2) Đo lường và xác định tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý cấp phát quân trang tại Cục H44; (3) Đưa ra những kiến nghị, đề xuất để thực hiện tốt hơn nữa công tác quản lý cấp phát quân trang tại Cục H44. Bằng phương pháp thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đã được sử dụng; kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng công tác quản lý cấp phát quân trang tại Cục H44 - Bộ Công an (BCA) chịu ảnh hưởng bởi 6 yếu tố, bao gồm: (i) Năng lực của cán bộ cấp phát quân trang ở cấp cơ sở các đơn vị công an, (ii) Dự báo số lượng biên chế ngành Công an, (iii) Tiêu chuẩn các mặt hàng quân trang, (iv) Năng lực kho chứa và báo quản, (v) Năng lực sản xuất của các công ty sản xuất quân trang, (vi) ứng dụng công nghệ thông tin. Trên cơ sở nghiên cứu, các tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu của công tác quản lý cấp phát quân trang tại Cục H44 - Bộ Công an.