Phòng khám Đa khoa Bình Thái là một phòng khám mới thành lập, vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện chất lượng dịch vụ. Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại Phòng khám Đa khoa Bình Thái để có được sự đánh giá thực trạng tình hình chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh của người bệnh, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại đây.
Trong xu thế hội nhập quốc tế và đẩy mạnh Chương trình tổng thể cải cách nền hành chính quốc gia giai đoạn 2011-2020. Một trong những yêu cầu cấp bách là nâng cao kết quả tuyển dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nói chung và đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn nói riêng. Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đã đột phá trong tuyển dụng công chức các cơ quan chuyên môn và đã có những kinh nghiệm bước đầu rất đáng khích lệ. Bài viết tổng hợp và phân tích về vấn đề tuyển dụng công chức cơ quan chuyên môn tại thành phố Hồ Chí Minh.
Khả năng thích ứng của cán bộ quản lý là khả năng thích ứng với những thay đổi trong công việc quản lý bao gồm những thay đổi về việc chuyển đổi từ công tác chuyên môn sang quản lý, thay đổi của công nghệ, thay đổi của môi trường tổ chức, thay đổi môi trường kinh doanh cạnh tranh... Trong môi trường làm việc liên tục thay đổi và không ổn định, khả năng điều chỉnh và thích ứng trong sự nghiệp của mình là rất quan trọng cho sự thành công. Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đã và đang phải thay đổi để tồn tại và phát triển như tái cấu trúc bộ máy, chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng tối ưu. Bên cạnh đó, ngành Viễn thông chịu áp lực trước sự thay đổi vô cùng nhanh chóng của khoa học công nghệ. Cán bộ quản lý ngành Viễn thông cần có khả năng thích ứng tốt để có thể thành công. Tuy nhiên, khả năng thích ứng của mỗi người lại thể hiện khác nhau đẫn đến kết quả công việc khác nhau. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính tại bàn, bài báo tập trung làm rõ các yếu tố gồm văn hóa tổ chức và tính cách chủ động tác động đến khả năng thích ứng nghề nghiệp của cán bộ quản lý trong doanh nghiệp viễn thông Việt Nam cũng như sự tác động của văn hóa tổ chức, tính cách chủ động và khả năng thích ứng đến thành công nghề nghiệp của cán bộ quản lý.
Sau khi dừng dự án điện nguyên tử, Quy hoạch điện VII lập tức được điều chỉnh với điểm nhấn khá rõ là phát triển điện chạy than trong cơ cấu nguồn. Theo đó, dù giảm 5.3% vào năm 2020 nhưng sản lượng điện từ than vẫn chiếm tỉ lệ quá lớn 55% vào năm 2025 và 53,2% năm 2030. Điều này dường như đi ngược với xu thế chung của quy hoạch nguồn điện là gia tăng tỷ trọng điện tái tạo trong cơ cấu nguồn. Bài báo đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch nguồn với tiếp cận bền vững trong mục tiêu đảm bảo an ninh trong cung cấp điện nhưng vẫn có thể hạn chế phát triển điện than ở giai đoạn trước mắt trước khi đẩy mạnh phát mục tiêu điện tái tạo trong giai đoạn tiếp theo.
Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang có xu hướng trỗi dậy ở một số quốc gia, Việt Nam vẫn tiếp tục tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với thế giới và nỗ lực gần đây nhất là Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Vì vậy, bài báo phân tích cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, giảm dần sự lệ thuộc quá mức vào các thị trường truyền thống khi Hiệp định CPTPP đi vào thực thi.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Quảng Nam rất chú trọng phát triển công nghiệp chế biến gỗ. Trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Quảng Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, thực tế phát triển Ngành còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn. Bài báo phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ của Tỉnh, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
Bài viết tập trung đánh giá tình hình thực hiện tái cơ cấu ngành Thủy sản trong giai đoạn 2013-2017. Từ những hạn chế tồn tại của ngành Thủy sản cũng như yêu cầu của thị trường nhập khẩu về sản xuất sạch, truy nguồn gốc, đặc biệt là yêu cầu quản lý nghề cá của khu vực và quốc tế, tác giả đề xuất ngành Thủy sản cần phải tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho phù hợp với tình hình thực tế và định hướng phát hiển mới của ngành.
Bài viết tập trung vào phân tích tác động của phát triển thủy điện MeKong đối với thủy sản và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, là quốc gia nằm phía cuối hạ nguồn hệ thống sông MeKong. Việc xây dựng thủy điện đã dẫn đến suy thoái đất nông nghiệp, một đầu vào quan trọng cho sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, các công trình đập cũng dẫn đến sự suy giảm chất dinh dưỡng tự nhiên từ đất, làm giảm đáng kể sản lượng nông sản, đặc biệt là các loại cây lương thực. Nguồn cung cấp và chất lượng nước ngọt từ dòng MeKong cũng bị ảnh hưởng tiêu cực do các công trình đập khác nhau. Tác động thứ hai liên quan đến tác động bất lợi đối với môi trường sống thủy sản và thủy sinh, dẫn đến sự sụt giảm về số lượng tạm thời của nghề cá và nuôi trồng thủy sản từ sông MeKong.
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, việc lập báo cáo tài chính theo Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (tên viết tắt là IFRS) ngày càng nhận được sự ủng hộ của cáp quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa đến việc vận dụng IFRS tại Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trên 176 mẫu khảo sát tại các công ty niêm yết thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng với việc sử dụng phần mềm SPSS. Kỹ thuật phân tích bao gồm thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, hồi quy tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 4 nhân tố bên ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hưởng đến vận dụng IFRS tại Việt Nam, gồm: (1) Áp lực hội nhập quốc tế; (2) Hệ thống pháp luật; (3) Phát triển kinh tế; (4) Sự tác động của các tổ chức nghề nghiệp trong và ngoài nước.
Chất lượng kiểm tra kế toán là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quản lý nhà nước và nguồn thu của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, chất lượng kiểm tra kế toán tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế. Bằng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, đánh giá độ tin cậy Cronbachs Alpha, kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đã được sử dụng, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố tác động đến chất lượng kiểm tra kế toán, để từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao công tác này tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chất lượng kiểm tra kế toán tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi 5 nhân tố, bao gồm: Hệ thống chính sách; Tính rõ ràng, minh bạch; Năng lực của cán bộ thanh tra, kiểm tra; Công tác tổ chức và bộ máy của đơn vị; ứng dụng công nghệ. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị cho chất lượng kiểm tra kế toán tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh ngày càng hoàn thiện hơn.