Nông nghiệp là cốt lõi của nền kinh tế Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Với tốc độ công nghiệp hóa hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần, nhưng nhu cầu về nông sản ngày một tăng lên về cả số lượng và chất lượng. Do đó, việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để tăng năng suất và chất lượng là điều thiết yếu. Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần có những yếu tố, như: nhân lực cấp cao (nhà nghiên cứu), nhân lực cấp trung (các kỹ sư nông nghiệp vận hành, ứng dụng, chuyển giao), nhân lực cấp thấp (lao động có tay nghề - nông dân). Trong bài viết này, tác giả nêu lên tầm quan trọng và chiến lược phát triển nhân lực - đặc biệt là nhân lực cấp trung để cung cấp cho việc vận hành, ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho nông dân nước ta, bài học từ Israel và Hà Lan.
Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp ngành May Việt Nam là yêu cầu quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì và nâng cao chất lượng lao động, từ đó ổn định sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bài viết phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp ngành May Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp may Việt Nam trong thời gian tới.
Internet đã từ lâu trở thành phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đối tượng sử dụng Internet ngày càng đa dạng, nhưng tập trung chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên, trong đó có học sinh, sinh viên. Đối với sinh viên cả nước nói chung và sinh viên Trường Đại học Đà Lạt nói riêng đã phát huy được những tích cực của Internet mang lại, tuy nhiên hiện nay xuất hiện bộ phận không nhỏ sinh viên đang có dấu hiệu “nghiện” Internet, dẫn đến học tập sa sút, tác động tiêu cực đến nhân cách, chuẩn mực đạo đức, giao tiếp ứng xử. Chính việc sử dụng Internet không hợp lý, lạm dụng phương tiện này làm xuất hiện những bất cập trong ý thức học tập, suy nghĩ và lối hành xử của một bộ phận sinh viên trong trường, trở thành vấn đề nóng, đặt ra trách nhiệm to lớn cho nhà trường, gia đình và cả xã hội.
Vì tính chất đặc thù của công việc, một tiếp viên hàng không cần đáp ứng đủ những tiêu chuẩn cần thiết, gồm có: ngoại hình ưa nhìn, đủ tiêu chuẩn về ngoại hình và sức khỏe, kĩ năng giao tiếp, ngoại ngữ, kĩ năng phản xạ, xử lý tình huống... Trong đó, kĩ năng giao tiếp của tiếp viên hàng không luôn có vị trí quan trọng và được coi như tiêu chuẩn cần phải đạt được. Sự giao tiếp của tiếp viên hàng không có một vai trò rất quan trọng trong nghề nghiệp của họ. Vì vậy, mỗi người tiếp viên hàng không đòi hỏi phải đáp ứng những kĩ năng giao tiếp cần thiết nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và mang lại hiệu quả cao trong công việc.
Bình Dương là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. So với các địa phương thuộc vùng thời kỳ ban đầu, Bình Dương không có nhiều thuận lợi về thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, bởi Bình Dương xuất phát điểm là một tỉnh nông nghiệp, kết cấu hạ tầng yếu kém. Tuy nhiên, đến nay, Bình Dương đã trở thành một đối thủ cạnh tranh “ nặng ký ” trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài so với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước. Việc khai thác lợi thế và kết quả bước đầu quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài ở Bình Dương là kinh nghiệm gợi ý cho các tỉnh, thành phố khác trong khu vực và cả nước.
Khi Việt Nam tiếp tục coi FDI là quan trọng đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay và để thu hút FDI thì (i) nên hoàn thiện Luật Đầu tư để cho phép tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài qua hoạt động sáp nhập và mua lại; (ii) cần đơn giản hóa hoặc gỡ bỏ các rào cản cho dòng vốn FDI, đặc biệt là FDI trong các lĩnh vực như: kinh doanh, tài chính, xây dựng, kỹ thuật, viễn thông, phân phối và giao thông vận tải trong một khung thời gian xác định trước; (iii) cần chú ý đến hệ thống đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng cho người lao động; (iv) hoàn thiện Điều 25 của Luật Đầu tư để giúp các doanh nghiệp FDI yên tâm khi sẽ không bị quốc hữu hóa trong mọi trường hợp. Ngoài ra, để thu hút nguồn vốn FDI thì ngoài các chính sách chung mà Việt Nam đã quy định, các địa phương cần dựa trên những lợi thế riêng có của mình như: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, môi trường chính sách, và khả năng quản lý của chính quyền địa phương... để đưa ra những chính sách phù hợp thu hút FDI.
Nông nghiệp Việt Nam còn một số tồn tại khá phổ biến làm hạn chế phát triển nông nghiệp theo các chuỗi giá trị, như thiếu kiểm soát chất lượng và sử dụng đầu vào, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tự phát; công nghệ sau thu hoạch còn thô sơ; yếu kém trong xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường, người tiêu dùng thiếu thông tin,... Vì vậy, cần thực hiện một số giải pháp từ cả phía nhà nước và từ phía các tác nhân tham gia chuỗi.
Bàn về đổi mới chính sách đãi ngộ đối với cán bộ khoa học và công nghệ quân sự là yêu cầu tất yếu khách quan hiện nay. Nội dung cốt lõi của hoạt động này là làm cho các chính sách đãi ngộ phản ánh đúng giá trị sức lao động, tính chất, đặc điển nhiệm vụ của cán bộ khoa học và công nghệ quân sự. Đồng thời, là cơ sở để giải quyết tốt mối quan hệ giữa cống hiến và hưỏng thụ, quyền lợi và trách nhiệm..., đảm bảo sự công bằng, bình đẳng và tạc động lực kích thích đội ngũ này không ngừng phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Nghiên cứu được tiến hành tại Chi cục Hải quan khu chế xuất Linh Trung nhằm phân tích các nhân tố tạo nên những thành phần chất lượng dịch vụ thủ tục hải quan điện tử và tác động của các thành phần này đến sự hài lòng của doanh nghiệp sử dụng dịch vụ hải quan điện tử. Kết quả nghiên cứu định tính thang đo thành phần chất lượng dịch vụ thủ tục hải quan điện tử bao gồm 6 thành phần: hệ thống, tin cậy, đáp ứng, an toàn, cảm thông và quản lý với 26 biến quan sát và thang đo thành phần hài lòng bao gồm 3 biến quan sát. Kết quả phân tích hồi qui tuyến tính bội theo phương pháp Enter cho thấy 5 thành phần, bao gồm: phục vụ, an toàn, cảm thông, hệ thống và quả lý, tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp sử dụng dịch vụ hải quan điện tử.
Năng lực quản lý nói chung và năng lực quản lý cấp trung nói riêng từ lâu đã trỏ thành những đề tài nóng hổi, thu hút sự quan tâm không chỉ của các học giả, các nhà nghiên cứu, mà còn thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý doanh nghiệp. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, năng lực quản lý cấp trung cũng là nhân tố quyết định thành công của bất cứ doanh nghiệp nào. Tuy nhiên, năng lực quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh thuốc lá ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưỗng tới hiệu quả kinh doanh của ngành Thuốc lá Việt Nam. Do đó, đề tài đã thực hiện khảo sát 650 người đang làm việc tại 4 doanh nghiệp thuốc lá điển hình ở Việt Nam (gồm: Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam - VINATABA, Tổng công ty Khánh Việt - KHATOCO, Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn - CNS và Tổng công ty Công nghiệp thực phẩm Đồng Nai - DOFICO) để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý của đội ngũ quản lý cấp trung và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng lực quản lý cấp trung với kết quả hoạt động của các doanh nghiệp thuốc lá ở Việt Nam nhằm tìm ra giải pháp nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ quản lý cấp trung của 4 doanh nghiệp này. Bài viết tiến hành kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả nghiên cứu cho thấy, các đối tượng điều tra gồm nhà quản lý cấp cao, nhà quản lý cấp trung, nhà quản lý sát sườn và nhân viên cấp dưới đều khẳng định cả 3 nhóm nhân tố là nhân tố thuộc về bản thân nhà quản lý, nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đều ảnh hưởng tích cực đến năng lực quản lý cấp trung và cả 3 yếu tố cấu thành năng lực quản lý cấp trung là tố chất quản lý (Be), kiến thức quản lý (Know) và hành động quản lý (Do) đều có quan hệ thuận chiều với kết quả hoạt động của 4 doanh nghiệp này. Với những kết quả nghiên cứu này, bài viết sẽ là cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý nhà nước có chính sách hỗ trợ, nhằm nâng cao năng lực quản lý cấp trung cho ngành Thuốc lá của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.