CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến nguy cơ sót sỏi trong kỹ thuật mổ lấy sỏi đài bể thận tại bệnh viện Đa khoa Thái Bình / Vũ Sơn, Trần Văn Nam // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2017 .- Số 1 .- Tr. 225-230 .- 610
Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến nguy cơ sót sỏi trong kỹ thuật mổ lấy sỏi đài bể thận tại bệnh viện Đa khoa Thái Bình. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 54 cộng trừ 12. Có 19 trường hợp mắc bệnh kết hợp, trong đó bệnh tiểu đường chiếm tỷ lệ 42.1 phần trăm. Hình thái sỏi S3 và S4 chiếm tỷ lệ cao hơn các loại hình thái khác. Tỷ lệ sót sỏi sau phẫu thuật là 26,3 phần trăm, nguy cơ sót sỏi giãn thận phải và thận trái. Hình thái của sỏi, mức độ viêm dính của thuận có ảnh hưởng tới tỷ lệ sót sỏi sau mổ.
2 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả vi phẫu thuật u tủy vùng cổ / Trương Như Hiển, Vũ Văn Hòe // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2017 .- Số 2 .- Tr. 116-121 .- 610
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả vi phẫu thuật u tủy vùng cổ trên 58 bệnh nhân u tủy cổ từ 01/2011 đến 01/2014. Kết quả cho thấy u tủy sống vùng cổ nên được điều trị bằng vi phẫu thuật. Lựa chọn phương pháp mổ phụ thuộc vào vị trí, kích thước, sự xâm lấn và phân loại mô bệnh học của khối u.
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực thực phẩm niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Thủy Hưởng, Trần Thanh Tâm // Khoa học Tài chính kế toán (Điện tử) .- 2016 .- Số 8 .- Tr. 50-55 .- 657
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chế biến lương thực phẩm niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh. Mẫu nghiên cứu bao gồm báo của 35 doanh nghiệp ngành chế biến lương thực, thực phẩm thời điểm năm 2012 niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhân tố khả năng thanh toán có ảnh hưởng thuận chiều với mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết.
5 Cách trình bày các tài sản không thuộc quyền sở hữu của đơn vị trên báo cáo tài chính theo thông tư của Bộ Tài chính / Trần Cẩm Vâ // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2016 .- Số 480 .- Tr. 64-66 .- 657
Việc trình bày các tài sản không thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp trên báo cáo tài chính giữa Thông tin 200 và quyết định số 15; Một số nguyên nhân mà thông tư 200 chưa thể hiện được đúng yêu cầu và mục đích Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp; Biện pháp trình bày các tài sản không thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp dưới hình thái giá trị.
7 Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam : với việc hướng tới chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Trọng Nghĩa // Khoa học công nghệ Việt Nam (Điện tử) .- 2015 .- Số 11 .- Tr. 45-53 .- 657
Trình bày tóm tắt quá trình cải cách hệ thống báo cáo tài chính của Việt Nam; Phân tích sự khác biệt giữa hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam với IFRS; Một số biện pháp cải thiện hệ thống báo cáo tài chính ở Việt Nam theo IFRS.
8 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên Báo cáo tài chính của Doanh nghiệp bảo hiểm / Nguyễn Thị Mai Anh, Lê Phương Thảo // Nghiên cứu khoa học kiểm toán .- 2015 .- Số 98 .- Tr. 24-28 .- 657
Tìm hiểu môi trường kinh doanh và nhận diện rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm. Từ đó xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu. Điều này sẽ hỗ trợ trực tiếp cho việc xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo mà kiểm toán viên sẽ thực hiện trong cuộc kiểm toán.
10 Cơ cấu vốn và khả năng thanh toán của các doanh nghiệp Việt Nam / Lê Hoàng Vinh // Khoa học & Đào tạo Ngân hàng (Điện tử) .- 2015 .- Số 157 .- Tr. 66-71 .- 657
Nghiên cứu mối quan hệ cơ cấu vốn với khả năng thanh toán (KNTT) của nhóm doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam. Mẫu nghiên cứu là 230 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2010 - 2013, dữ liệu được tiếp cận từ báo cáo tài chính đã kiểm toán. Phân tích hồi quy cho thấy mức độ sử dụng nợ trong cơ cấu vốn có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể đến KNTT nợ ngắn hạn và chi phí lãi vay. Kết quả nghiên cứu gợi ý KNTT là điều kiện ràng buộc đối với quyết định lựa chọn cơ cấu vốn của các doanh nghiệp.