CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường từ hiệp định CPTPP / Nguyễn Quốc Thái // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 110-115 .- 658
Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang có xu hướng trỗi dậy ở một số quốc gia, Việt Nam vẫn tiếp tục tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với thế giới và nỗ lực gần đây nhất là Việt Nam đã ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Vì vậy, bài báo phân tích cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, giảm dần sự lệ thuộc quá mức vào các thị trường truyền thống khi Hiệp định CPTPP đi vào thực thi.
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Quảng Nam: Thực trạng và giải pháp / Lê Trung Hiếu // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 98-103 .- 658
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Quảng Nam rất chú trọng phát triển công nghiệp chế biến gỗ. Trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Quảng Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, thực tế phát triển Ngành còn nhiều bất cập và gặp nhiều khó khăn. Bài báo phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ của Tỉnh, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗ tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
3 Đánh giá tình hình thực hiện tái cơ cấu ngành Thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2013-2017 / Lê Thị Mai Anh // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 93-98 .- 658
Bài viết tập trung đánh giá tình hình thực hiện tái cơ cấu ngành Thủy sản trong giai đoạn 2013-2017. Từ những hạn chế tồn tại của ngành Thủy sản cũng như yêu cầu của thị trường nhập khẩu về sản xuất sạch, truy nguồn gốc, đặc biệt là yêu cầu quản lý nghề cá của khu vực và quốc tế, tác giả đề xuất ngành Thủy sản cần phải tái cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho phù hợp với tình hình thực tế và định hướng phát hiển mới của ngành.
4 Tác động của phát triển thủy điện MeKong đến an ninh lương thực ở Việt Nam / Đỗ Diệu Linh // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 87-92 .- 658
Bài viết tập trung vào phân tích tác động của phát triển thủy điện MeKong đối với thủy sản và sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, là quốc gia nằm phía cuối hạ nguồn hệ thống sông MeKong. Việc xây dựng thủy điện đã dẫn đến suy thoái đất nông nghiệp, một đầu vào quan trọng cho sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, các công trình đập cũng dẫn đến sự suy giảm chất dinh dưỡng tự nhiên từ đất, làm giảm đáng kể sản lượng nông sản, đặc biệt là các loại cây lương thực. Nguồn cung cấp và chất lượng nước ngọt từ dòng MeKong cũng bị ảnh hưởng tiêu cực do các công trình đập khác nhau. Tác động thứ hai liên quan đến tác động bất lợi đối với môi trường sống thủy sản và thủy sinh, dẫn đến sự sụt giảm về số lượng tạm thời của nghề cá và nuôi trồng thủy sản từ sông MeKong.
5 Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến việc vận dụng IFRS của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam / Nguyễn Thị Ánh Linh // Công thương (Điện tử) .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 439-443 .- 658
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, việc lập báo cáo tài chính theo Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (tên viết tắt là IFRS) ngày càng nhận được sự ủng hộ của cáp quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa đến việc vận dụng IFRS tại Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trên 176 mẫu khảo sát tại các công ty niêm yết thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng với việc sử dụng phần mềm SPSS. Kỹ thuật phân tích bao gồm thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, hồi quy tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 4 nhân tố bên ngoài doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hưởng đến vận dụng IFRS tại Việt Nam, gồm: (1) Áp lực hội nhập quốc tế; (2) Hệ thống pháp luật; (3) Phát triển kinh tế; (4) Sự tác động của các tổ chức nghề nghiệp trong và ngoài nước.
6 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm tra kế toán tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Duy Khánh Ngọc // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 433-438 .- 658
Chất lượng kiểm tra kế toán là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quản lý nhà nước và nguồn thu của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, chất lượng kiểm tra kế toán tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế. Bằng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, đánh giá độ tin cậy Cronbachs Alpha, kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đã được sử dụng, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố tác động đến chất lượng kiểm tra kế toán, để từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao công tác này tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chất lượng kiểm tra kế toán tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi 5 nhân tố, bao gồm: Hệ thống chính sách; Tính rõ ràng, minh bạch; Năng lực của cán bộ thanh tra, kiểm tra; Công tác tổ chức và bộ máy của đơn vị; ứng dụng công nghệ. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị cho chất lượng kiểm tra kế toán tại Thanh tra thành phố Hồ Chí Minh ngày càng hoàn thiện hơn.
7 Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt Nam / Nguyễn Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Mỹ Linh // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 426-432 .- 332.64
Nghiên cứu này nhằm xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, là phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố như tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập, kiểm toán độc lập, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn không thuộc ban điều hành đều tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra hàm ý với từng nhân tô tác động nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý, nâng cao tính trung thực và hợp lý trên Báo cáo tài chính, giúp nhà đầu tư có cơ sở để đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn.
8 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lụa chọn dịch vụ kế toán của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Quyết Thắng, Hoàng Thị Thúy Ngọc // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 419-425 .- 657
Kể từ khi hình thành và phát triển cho đến nay, thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và đạt những thành tựu quan trọng. Bằng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, đánh giá độ tin cậy Cronbachs Alpha, kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy đã được sử dụng. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, để từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, quyết định lựa chọn dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại quận Gò vấp - thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi 6 yếu tố, bao gồm: Sự hỗ trợ, Năng lực, Độ tin cậy, Chi phí, Sự giới thiệu và Tính hữu hình. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao khả năng quyết định lựa chọn dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại quận Gò vấp - thành phố Hồ Chí Minh.
9 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam / Nguyễn Thị Kim Cúc, Nguyễn Lê Vân Khanh // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 412-418 .- 657
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự nguyện áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) tại các doanh nghiệp Việt Nam và mức độ tác động của từng nhân tố đến quá trình tự nguyện áp dụng IFRS. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố: quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và cơ cấu vốn đầu tư là những nhân tố tác động đến quá trình tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên với loại hình doanh nghiệp lớn còn bị ảnh hưởng bởi nhân tố hình thức sở hữu. Từ kết quả của nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra những kiến nghị, hàm ý có liên quan nhằm đẩy nhanh quá trình tự nguyện áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp trước lộ trình bắt buộc áp dụng của Bộ Tài chính.
10 Thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La đối với doanh nghiệp / Bùi Thị Hồng Việt, Nguyễn Kim Phượng // .- 2018 .- Số 13 .- Tr. 406-411 .- 658
Qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công tác quản lý và phát triển quỹ Bảo hiểm xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, thực trạng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được thực hiện đầy đủ, tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc diễn ra thường xuyên và có xu hướng ngày càng nghiêm trọng, phức tạp. Từ tháng 11/2016, khi chức năng thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chính thức được giao cho ngành Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La đã có những giải pháp trong việc tổ chức bộ máy thanh tra, xây dựng đội ngũ thanh tra, xây dựng kế hoạch và nội dung thanh tra, tổ chức thực hiện thanh tra... Tuy nhiên, trong thời gian qua, thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La đã bộc lộ một số hạn chế. Bài viết này sẽ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với các doanh nghiệp cho Bảo hiểm xã hội tỉnh Sơn La.