CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Xây dựng và triển khai hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam / Nguyễn Vĩnh Hưng, Phan Minh Anh // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 20-26 .- 332.12
Tổng quan về hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng; phương pháp xây dựng hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng; thực trạng xây dựng và phát triển hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng tại Ngân hàng Nhà nước; Đề xuất xây dựng và phát triển hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng tại Ngân hàng Nhà nước.
2 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về ngoại hối : 5 năm một chặng đường / Nguyễn Ngọc Cảnh // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 37-40 .- 332.45
Trình bày những thành tựu đạt được trong công tác quản lý ngoại hối; Một số giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý ngoại hối nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
3 Những tác động và xu hướng phát triển của hoạt động ngân hàng trong tiến trình của cuộc CMCN 4.0 / Đào Minh Phúc // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 84-91 .- 332.12
Trình bày hệ thống tài chính ngân hàng thế giới với Cách mạng công nghiệp 4.0; Ngân hàng Việt Nam thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
4 Những xu hướng mới trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và vấn đề đặt ra với các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Thị Hòa // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 92-97 .- 332.12
Những xu hướng mới trong mô hình kinh doanh ngân hàng; Những xu hướng mới trong hệ thống ngân hàng Việt Nam 10 năm gần đây; Những vấn đề đang đặt ra với các ngân hàng thương mại Việt Nam.
5 Sử dụng dữ liệu thay thế trong chấm điểm tín dụng : hướng đi mới cho các tổ chức tín dụng / Nguyễn Thị Hiền, Phạm Hà Phương // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 98-103 .- 332.1
Giới thiệu tổng quan về khái niệm mới này. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá sơ bộ hoạt động thu thập thông tin và chấm điểm tín dụng cho khách hàng cá nhân tại các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay, đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động này nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của các TCTD; trong đó có việc sử dụng dữ liệu thay thế.
6 Đổi mới quy trình lập pháp hiện hành theo Hiến pháp năm 2013 / Trần Ngọc Đường // Nghiên cứu Lập pháp .- 2019 .- Số 13 (389) .- Tr. 29 – 34 .- 340
Qua 4 năm thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho thấy, công tác xây dựng pháp luật ở nước ta đã có chuyển biến tích cực, chất lượng văn bản pháp luật đã được nâng cao hơn, nhiều văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, đối chiếu với những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013, có thể thấy Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 còn có khiếm khuyết như: Các quy định của Luật về phân công, phối hợp trong hoạt động lập pháp không phù hợp, chưa thể hiện đầy đủ vai trò của Nhân dân trong hoạt động lập pháp; kiểm soát ủy quyền lập pháp chưa được quy định chặt chẽ để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của lập pháp ủy quyền. Vì vậy, việc hoàn thiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đang được đặt ra cấp thiết.
7 Làm mạnh hóa hệ thống ngân hàng từ thực tiễn: Áp dụng nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về việc thí điểm xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng / Võ Trung Tín, Văn Thành Khánh Linh // .- 2019 .- Số 13 (389) .- Tr. 47 – 52 .- 340
Ngày 21/6/2017, Nghị quyết số 42/2017/QH14 về việc thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua. Trong hai năm qua, bên cạnh các lợi ích mang lại, các tổ chức tín dụng cũng gặp không ít các khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14
8 Hoàn thiện các quy định của Luật phá sản năm 2014 / Trương Thị Quỳnh Trâm // Nghiên cứu Lập pháp .- 2019 .- Số 13 (389) .- Tr. 53 – 57 .- 340
Luật Phá sản năm 2014 ra đời đã tạo khung pháp lý vững chắc cho việc phá sản các doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, các quy định pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn tồn tại một số bất cập, gây nhiều khó khăn cho hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã cũng như các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc giải quyết thủ tục phá sản. Do vậy, đặt ra vấn đề cần phải có giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thủ tục phá sản trong thực tiễn.
9 Quy định về nhóm công ty trong pháp luật một số quốc gia và những nội dung tham khảo cho Việt Nam / Trần Minh Anh // Nghiên cứu Lập pháp .- 2019 .- Số 13 (389) .- Tr. 58 – 64 .- 340
Nhóm công ty đang ngày càng xuất hiện phổ biến ở Việt Nam bởi mô hình này giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức liên kết kinh tế của các công ty. Tuy nhiên, các quy định pháp lý hiện hành về nhóm công ty tại Việt Nam còn nhiều điểm hạn chế. Nhận diện và khắc phục các điểm hạn chế này trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên thế giới trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan là cần thiết để tạo môi trường thuận lợi cho các nhóm công ty phát triển, qua đó thúc đẩy nền kinh tế quốc gia.
10 Phổ quát hóa quyền tự do kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế / Dương Anh Sơn, Nguyễn Thị Thu Trang // Nghiên cứu Lập pháp .- 2019 .- Số 19 (395) .- Tr. 13 – 19 .- 340
Quyền tự do kinh doanh phải được đảm bảo và trở nên phổ quát do vai trò thực sự to lớn của quyền này và để quá trình tự do hóa thương mại nói riêng và và toàn cầu hóa nói chung diễn ra tại Việt Nam thu được hiệu quả cao. Trong đó tiên phong là pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư, pháp luật cạnh tranh,…nói riêng và pháp luật kinh tế của Việt Nam nói chung cần phải phổ quát hóa quyền tự do kinh doanh – quyền kinh tế của con người.