Tổng quan nghiên cứu; Số liệu và phương pháp nghiên cứu qua các số liệu thống kê điều tra doanh nghiệp của VN từ năm 2013 đến 2017; Một số đặc điểm về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam; Ảnh hưởng của xuất khẩu đến năng suất lao động trong doanh nghiệp.
Chi tiêu công cho giáo dục là vấn đề nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp các kết quả định lượng cho hai mục tiêu nghiên cứu sau đây. Thứ nhất, nghiên cứu xác định mức độ chênh lệch chi tiêu công cho giáo dục tại Việt Nam, dựa trên phương pháp mới được phát triển bởi Vo (2008, 2009, 2010). Thứ hai, nghiên cứu xây dựng và xác định mối tương quan giữa chênh lệch chi ngân sách cho giáo dục và phân phối thu nhập tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng chi tiêu công cho giáo dục làm tăng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chi ngân sách đảm bảo an ninh xã hội lại làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Nghiên cứu này chỉ ra rằng giảm chênh lệch giữa mức độ chi tiêu công cho giáo dục giữa các đơn vị trong cả nước và trong mỗi địa phương sẽ góp phần làm giảm bất bình đẳng về thu nhập tại Việt Nam.
Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của tổ chức công đoàn đến hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015. Tuy đã có nhiều nghiên cứu đề cập về mối quan hệ này ở các nước phát triển, nhưng một nghiên cứu sâu ở quốc gia đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam lại rất có ý nghĩa do tổ chức công đoàn ở quốc gia này rất khác về vị thế và khả năng đàm phán. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của tổ chức công đoàn làm gia tăng hoạt động cải tiến sản phẩm hiện có, thúc đẩy doanh nghiệp đưa ra công nghệ hay qui trình sản xuất mới, và kế hoạch giới thiệu sản phẩm mới trong tương lai. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam chỉ chú trọng đầu tư chiều sâu bằng việc phát triển công nghệ/qui trình sản suất mới hay giới thiệu sản phẩm mới, nếu như chủ tịch công đoàn đồng thời là chủ hay có mối liên hệ với chủ doanh nghiệp. Vấn đề này có hàm ý chính sách quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong dài hạn, đồng thời bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và chủ doanh nghiệp.
Bài viết ước lượng tác động của tín dụng tới bất bình đẳng thu nhập ở Việt nam bằng việc sử dụng dữ liệu cấp tỉnh và phương pháp ước lượng Moment tổng quát. Khác với nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này phân tách tác động riêng của từng loại hình tín dụng tới bất bình đẳng thu nhập. Kết quả cho thấy trong khi tín dụng thương mại làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập thì tín dụng chính sách lại góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam. Trên cơ sở đó bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm kết hợp phát triển thị trường tín dụng với giảm bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu rút trích từ bộ dữ liệu Điều tra Tiếp cận Nguồn lực của Hộ gia đình được khảo sát các năm 2008, 2010, 2012, 2014, 2016 gồm 1.872 hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Thông qua mô hình hồi quy hiệu ứng cố định cùng với các biến tương tác, kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) rủi ro do tự nhiên, sâu, dịch bệnh, hoặc kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiền lương, tiền công; đặc biệt tập trung ở những hộ bị rủi ro tự nhiên hay kinh tế, cá nhân có đa dạng hóa thu nhập, hộ bị sâu, dịch bệnh và có giá trị khoản vay tích lũy cao, hoặc có vay trong năm bị rủi ro, hoặc hộ có tham gia bảo hiểm nhưng thiệt hại do rủi ro cá nhân lớn; (2) ngược lại, hộ bị rủi ro tự nhiên và có giá trị tiết kiệm tích lũy cao, hoặc bị rủi ro cá nhân mà có tham gia bảo hiểm sẽ có tiền lương, tiền công cao hơn.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các nhân tố lên dân trí tài chính (financial literacy) của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam. Nhóm tác giả đã sử dụng cả nghiên cứu định tính và định lượng để đánh giá. Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố nội tại bao gồm kiến thức tài chính, hành vi tài chính và thái độ tài chính là những nhân tố phản ánh (reflective model) – có tác động đến dân trí tài chính trong đó thái độ về tiết kiệm và đầu tư tài chính có ảnh hưởng rõ rệt nhất. Nghiên cứu cũng kiểm định rằng, trong các nhân tố nhân khẩu học thì tuổi tác, thu nhập và học vấn có tác động cùng chiều lên dân trí tài chính; đồng thời giới tính không có ảnh hưởng đáng kể. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách với các cơ quan liên quan trong việc hình thành thói quen tiết kiệm của người nghèo khu vực nông thôn, đồng thời hình thành các vấn đề về thái độ và hành vi tài chính.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, bài báo nhằm đánh giá vận dụng chuẩn mực kế toán hợp nhất kinh doanh theo hai khía cạnh: ghi nhận và công bố thông tin các tài sản sinh ra từ hợp nhất kinh doanh. Vingroup được chọn do công ty có nhiều giao dịch hợp nhất kinh doanh và tiên phong trong việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế. Kết quả phân tích cho thấy vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa yêu cầu và thực tế áp dụng các chuẩn mực kế toán hợp nhất kinh doanh tại công ty trong việc ghi nhận và công bố thông tin về lợi thế thương mại và tài sản vô hình khác khi lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực Việt Nam và theo chuẩn mực quốc tế. Kết quả này ngụ ý rằng, minh bạch thông tin giao dịch hợp nhất kinh doanh ở Việt Nam còn chưa đáp ứng kỳ vọng và điều này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhà đầu tư.
Nghiên cứu này nhằm so sánh khả năng giải thích của 3 mô hình định giá: Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), Fama French 3 nhân tố (FF3NT) và Fama French 5 nhân tố (FF5NT) đối với tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu niêm yết tại sàn chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE), sử dụng chỉ số thị trường VN-Index, giá đóng cửa của các cổ phiếu (không gồm ngành ngân hàng) được niêm yết trên HOSE với tần suất tháng trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 đến ngày 31 tháng 12 năm 2018. Kết quả cuối cùng cho thấy FF5NT là phù hợp và tốt nhất trong 3 mô hình trong việc giải thích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu niêm yết trên HOSE.
Dựa vào lý thuyết sự chủ động trong công việc (Carpini & cộng sự, 2017; Griffin & cộng sự, 2007; Parker & Collins, 2010), nghiên cứu đề xuất rằng động lực nội tại, kỹ năng sáng tạo và chuyên môn tác động trực tiếp đến tự điều chỉnh nhiệm vụ và ảnh hưởng gián tiếp đến sự sáng tạo thông qua tự điều chỉnh nhiệm vụ. Nghiên cứu chính thức đã khảo sát 331 chuyên viên, kỹ thuật viên và kỹ sư đang làm việc tại các doanh nghiệp công nghệ thông tin. Kết quả cho thấy động lực nội tại, kỹ năng sáng tạo và chuyên môn tác động trực tiếp dương đến tự điều chỉnh nhiệm vụ. Hơn nữa, tự điều chỉnh nhiệm vụ là trung gian liên kết tác động của (a) động lực nội tại, (b) kỹ năng sáng tạo, (c) chuyên môn lên sự sáng tạo.
Bài viết làm rõ tình hình sử dụng thực tập sinh cũng như nhu cầu tuyển dụng thực tập sinh khối ngành kinh tế của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Huế. Thông qua dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp bằng phương pháp chọn mẫu quota, nhóm nghiên cứu đã phản ánh được các hoạt động thực tế mà thực tập sinh đã tham gia, lợi ích và những trở ngại khi doanh nghiệp sử dụng thực tập sinh cũng như những mong muốn của doanh nghiệp đối với việc sử dụng thực tập sinh tại đơn vị của mình. Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất các hàm ý cho các bên liên quan trong việc đáp ứng nhu cầu thực tập sinh ở các doanh nghiệp.