Trình bày về sự ra đời của sợi Bazan-BCF, quy trình sản xuất sợi Bazan, các sản phẩm được tạo ra từ gốc sợi Bazan, vật liệu composite có nguồn gốc sợi Bazan, phân tích các đặc trưng cơ học tấm gia cường có nguồn gốc cốt sợi Bazan (BFRP); Trình tự sữa chữa kết cấu bê tông cốt thép bằng phương pháp gia cường sợi Bazan-BFRP.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá những ảnh hưởng của việc thay thế một phần xi măng bằng phế thải tro bay từ nhà máy nhiệt điện đốt than đến các đặc tính kỹ thuật của vật liệu bê tông bọt siêu nhẹ bao gồm: cường độ chịu nén, khối lượng thể tích khô, độ hút nước và khả năng hấp thụ nhiệt.
Điểm trung chuyển ngoài chức năng chính là chức năng giao thông thì còn có các chức năng hỗ trợ khác là chức năng không gian và chức năng thương mại. Ba chức năng này có tác động qua lại, tương hỗ với nhau để làm nên sự thành công của một điểm trung chuyển. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài báo này, tác giả chỉ tập trung các nghiên cứu của mình về chức năng giao thông, cụ thể là tính chuyển giao, tiếp cận và kết nối giữa các phương tiện giao thông khác nhau đến điểm trung chuyển và ngược lại.
Trong nghiên cứu này, biến dạng của các nút khung được kể đến trong quá trình phân tích khung thép phẳng chịu uốn moment SMRF khi chịu động đất. Kết quả phân tích từ từ các trận động đất được sử dụng để xem xét độ trôi tầng lớn nhất (C) mà kết cấu chịu được và độ trôi tầng yêu cầu (D), từ đó sẽ đưa ra tham số về độ tin cậy của công trình…
So sánh, đối chiếu kết quả sức chịu tải cọc tính toán từ độ chối thử động với sức chịu tải cọc từ thí nghiệm PDA (với số lượng 4 cọc thử trên một chương trình), so sánh với kết quả sức chịu tải cọc mô phỏng bằng phần mềm Plaxis 2D. Từ đó đánh giá, kết luận về mức độ tin cậy của sức chịu tải cọc tính toán từ độ chối thử động truyền thống.
Bê tông cốt sợi thép được chế tạo vằng cách trộn lẫn các sợi thép cường độ cao vào hỗn hợp bê tông để cải thiện cường độ chịu kéo của vật liệu và khả năng làm việc của kết cấu bê tông và bê tông cốt thép sau khi bị nứt. Trong nghiên cứu này, một chương trình thực nghiệm bao gồm các thí nghiệm nén và thí nghiệm uốn ba điểm đã được thực hiện trên các mẫu bê tông thường và bê tông sợi thép có hàm lượng thay đổi lần lượt là 20, 50, 75 và 100kg/m3.
Trình bày các kết quả thực nghiệm về các đặc điểm của vết nứt bê tông do ăn mòn cốt thép trong môi trường xâm thực clorua và do tải trọng tác dụng gây ra trên 8 dầm bê tông cốt thép có các kích thước 150x200x2200 mm. Các dầm này được chia làm bốn nhóm mẫu, gồm một nhóm dầm không ăn mòn, và ba nhóm dầm ăn mòn với các mức độ ăn mòn cốt thép lần lượt là 5-6%, 9-10% và 13-15%. Sơ đồ vết nứt được vẽ lại trên các bề mặt dầm, nhằm xác định hình dạng, số lượng, và khoảng cách giữa các vết nứt. Đồng thời, bề rộng của các vết nứt cũng được đo đạc để xác định mối liên hệ với mức độ ăn mòn cốt thép.
Trình bày các kết quả thực nghiệm so sánh cường độ bám dính của cốt GFRP và cốt thép với bê tông cốt sợi phân tán trong điều kiện môi trường đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long.
Trình bày kết quả cuộc khảo sát về nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý chi phí của chủ đầu tư trong giai đoạn thi công nhà cao tầng – trường hợp nghiên cứu ở TP. HCM. Cuộc khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát và phân tích số liệu thống kê. Kết quả khảo sát đã xếp hạng được các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến quản lý chi phí. Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (EFA), sau khi phân tích đã tìm ra được các nhóm nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc quản lý chi phí của chủ đầu tư trong giai đoạn thi công nhà cao tầng như: Năng lực, Bên ngoài, Chủ đầu tư, Thi công.
Trình bày một nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của hàm lượng cốt dọc và số lớp tấm GFRP dạng U gia cường kháng cắt đến khả năng kháng cắt và chuyển vị của dầm bê tông cốt thép. Chương trình thực nghiệm được thực hiện trên tám mẫu dầm tiết diện chữ nhật có cùng kích thước (200x500x3400mm), có hàm lượng cốt dọc thay đổi (1.71% và 2.08%) và số lớp tấm GFRP dạng U dùng để gia cường kháng cắt khác nhau (một, hai và ba lớp).