Xác định tỷ lệ kháng huyết thanh trong nhóm viêm gan B tiềm ẩn. Xác định tỷ lệ kiểu hình trong viêm gan B tiềm ẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 61 mẫu máu người hiến có kết quả xét nghiệm HBsAg âm tính và HBV-DNA dương tính. Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang, thực hiện 5 xét nghiệm dấu ấn huyết thanh học: Anti-HBs, Anti-HBc, Anti-HBc IgM, HBeAg, Anti-HBe bằng kỹ thuật hóa phát quang và điện hóa phát quang. Kết quả: Dựa trên xét nghiệm anti-HBc và anti-HBs xác định nhóm OBI kháng huyết thanh âm tính với kiểu hình anti-HBc(-), anti-HBs (-) chiếm tỷ lệ 9,84%; Nhóm OBI kháng huyết thanh dương tính chiếm tỷ lệ 90,06% với 3 kiểu hình: Anti-HBc (+)/anti-HBs (-) chiếm tỷ lệ 45,9%; Anti-HBc (-)/anti-HBs (+) chiếm tỷ lệ 18,03%; Anti-HBc (+)/anti-HBs (+) chiếm tỷ lệ 26,23%. Xét nghiệm 5 dấu ấn huyết thanh học anti-HBc, anti-HBc IgM, anti-HBs, HBeAg, anti- HBe trên những người nhiễm viêm gan B tiềm ẩn giúp phân loại được 7 kiểu hình trong đó kiểu hình thuộc giai đoạn cửa sổ trong nhiễm HBV cấp tính chiếm tỷ lệ 9,84%. Kiểu hình thuộc giai đoạn cấp tính muộn hay giai đoạn hồi phục sớm chiếm tỷ lệ 4,92%. Còn lại là các kiểu hình nhiễm OBI với giai đoạn mạn tính. Kết luận: Nhóm viêm gan B tiềm ẩn kháng huyết thanh âm tính chiếm tỷ lệ chỉ bằng 1/10 nhóm kháng huyết thanh dương tính và hơn 80% tỷ lệ kiểu hình nhiễm viêm gan B tiềm ẩn thuộc giai đoạn mạn tính.
Bạch cầu cấp dòng tiền tủy bào (APL) là một dạng bạch cầu cấp đặc biệt, liên quan đến sự chuyển vị giữa nhiễm sắc thể (NST) 15 và 17, tạo ra tổ hợp gen PML-RARA. APL là một trong những dạng bạch cầu cấp nguy hiểm nhất do tình trạng rối loạn đông máu gây ra, nhưng có thể được điều trị hiệu quả bằng all-trans-retinoic acid (ATRA) và arsenic trioxide (ATO). Bạch cầu mạn dòng tủy (CML) là bệnh lý tăng sinh tủy mạn tính liên quan đến sự hiện diện của NST Philadelphia (NST Ph+), kết quả từ sự chuyển vị giữa NST 9 và 22, tạo ra tổ hợp gen BCR-ABL1. Điều trị CML chủ yếu dựa vào các thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI). Tuy nhiên sự tiến triển CML Ph+ thành APL là rất hiếm. Trong bài này chúng tôi báo cáo trường hợp người bệnh nam 24 tuổi được chẩn đoán CML Ph+ vào năm 2010 được điều trị bằng imatinib. Sau 14 năm, người bệnh chuyển thành APL với các đột biến đồng thời BCR-ABL1 và PML-RARA, qua đây chúng tôi muốn thảo luận thêm về chẩn đoán và điều trị cho trường hợp bệnh hiếm này.
Mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Xác định mối liên quan giữa xét nghiệm ADAMTS13 với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương của xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 trong chẩn đoán TTP. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca, hồi cứu trên tất cả người bệnh nội trú được chỉ định xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 tại bệnh viện Truyền máu Huyết học từ năm 2019-2023. Kết quả: Nghiên cứu thực hiện trên 127 người bệnh, tỉ lệ người bệnh có giảm hoạt độ ADAMTS13<10% là 46,5%. Nghiên cứu cho thấy khi có càng nhiều triệu chứng của ngũ chứng thì tỉ lệ người bệnh có hoạt độ ADAMTS13<10% càng tăng. Tất cả người bệnh có hoạt độ ADAMTS13<10% đều có điểm PLASMIC ≥5 điểm. Sự tăng tỉ lệ hồng cầu lưới, tăng mảnh vỡ hồng cầu, giảm Haptoglobin, tăng LDH, và giảm PLT có liên quan với sự giảm hoạt độ ADAMTS13. Tại mức ADAMTS13<10% xét nghiệm có độ nhạy là 92,5%, độ đặc hiệu là 74,4%, giá trị tiên đoán dương là 62,7%, giá trị tiên đoán âm là 95,6% trong chẩn đoán TTP. Kết luận: Việc chỉ định xét nghiệm hoạt độ ADAMTS13 ở những người bệnh nghi ngờ TTP là rất cần thiết để xác định chẩn đoán và đưa ra những quyết định điều trị phù hợp nhất cho người bệnh.
Xác định bệnh tồn lưu tối thiểu trên người bệnh Bạch cầu cấp dòng tủy mang đột biến gen NPM1 type A bằng kỹ thuật RQ-PCR. Đối tượng: Người bệnh bạch cầu cấp dòng tủy mang đột biến gen NPM1 type A lúc chẩn đoán tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 10/2022 đến tháng 10/2023. Phương pháp nghiên cứu: Tạo dòng plasmid từ DNA mẫu bệnh nhân bằng kit pGEMT Easy vector TA cloning để xây dựng đường cong chuẩn. Phản ứng RQ-PCR được thực hiện với mẫu nồng độ chuẩn, mồi, đầu dò và 2X PrimeTime® Gene Expression Master Mix (Integrated DNA Technologies-Mỹ) để tối ưu hóa. Xác định bệnh tồn lưu tối thiểu trên người bệnh bằng kỹ thuật RQ-PCR. Kết quả: Chúng tôi đã chuẩn hóa thành công phản ứng RQ-PCR để định lượng đột biến NPM1 type A với độ nhạy 10-5. Dựa trên kết quả động học của bệnh tồn lưu tối thiểu, có 13/17 NB cho thấy mức giảm 3 log10 NPM1 sau điều trị. Kết luận: Kỹ thuật RQ-PCR đường chuẩn có thể xác định dòng đột biến NPM1 type A ở mức thấp, là công cụ hữu ích trong theo dõi tồn lưu tế bào ác tính mang đột biến NPM1 type A.
Đột biến gen c-Kit D816V là đột biến trên gen c-Kit tại vị trí codon 816, thay thế acid amin aspatart thành valin, từ đó làm thay đổi sự dẫn truyền tín hiệu. Đột biến này được nhiều nghiên cứu cho thấy như loại đột biến thứ phát trên bệnh lơ xê mi cấp dòng tủy và có ý nghĩa tiên lượng xấu cho nhóm bệnh nhân này. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu là nhận xét đặc điểm đột biến gen C-kit D816V bằng phương pháp real-time PCR và mô tả một số ca bệnh có đột biến gen C-kit D816V. Nghiên cứu được thiết kế là nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc trên 75 bệnh nhân được chẩn đoán lơ xê mi cấp dòng tủy được chẩn đoán lần đầu tại Bệnh viện Bạch Mai. Từ những kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận xét một số đặc điểm của đột biến gen C-Kit D816V được phát hiện bằng phương pháp Real-time PCR, sử dụng bộ kit geneMAP c-Kit D816V Mutation Detection Kit (Genmark, Thổ Nhĩ Kỳ) trên thiết bị Biorad CFX96 (Biorad, Mỹ). Tỷ lệ đột biến c-Kit D816V ở 75 bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy, tại Bệnh viện Bạch Mai là 2,7%. Theo dõi dọc hai trường hợp có đột biến c-Kit D816V đều có kết cục xấu. Trường hợp bệnh nhân trẻ tuổi, thể trạng tốt thì có thời gian tái phát sớm. Bệnh nhân này có thời gian sống toàn bộ là 09 tháng, thời gian sống không bệnh là 02 tháng. Trường hợp bệnh nhân lớn tuổi có thời gian sống thêm rất ngắn. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu về nhận xét tiên lượng của đột biến c-Kit D816V trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy. Những kết quả bước đầu này gợi ý cần thực hiện nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để tìm hiểu về đột biến c-Kit D816V trên bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy.
Developing academic writing skill is always a must in undergraduate and postgraduate programs for English majors. This study explores to what extent the Vietnamese learners of English as a foreign language (EFL) apply the knowledge that they have formally learned in the Writing and the Doing scientific research courses to writing their MA graduation theses; the focus is on the abstract. From the perspective of genre analysis, this study aims to describe the structural features of this genre.
This study utilizes Particle Swarm Optimization (PSO) and Deb’s feasibility rules to construct a method for constrained optimization named as frPSO. PSO is a capable swarm intelligence based metaheuristic and Deb’s feasibility rules is an effective constraint-handling method. This integrated tool is developed in Python. frPSO has been tested with three basic constrained optimization problems.
Resumed the way T-cells are regulated between active and inactive states. The discovery of two receptors for the transduction of inhibitory signals, the cytotoxic T-cell receptor and the programmed cell death receptor, is presented in the second part. Disrupting the backward process of Tcells by blocking these receptors triggers the actions of T-cells against cancer cells and brings hope for cancer patients. In the third section, we discussed the developments of three groups of antibodies for anti-cancer purposes and their potentials in cancer treatments.
This research work aims at implementing a swarm intelligence based approach for solving complex constrained optimization tasks. The ε Particle Swarm Optimization (ε PSO) is selected as the employed global optimizer. This optimization method is developed in Python to facilitate its implementations. The newly developed program has been tested with two basic design problems in civil engineering.
An experimental study on compressive strength of mortar mixes containing different amounts of rice husk ash (5, 10, 20%) has been investigated. The impact of different elevated temperatures (150, 300, 450, 750oC) on mortar strength is also examined. The experiments found that RHA can be used in its untreated form up to 10% as cementitious replacement without detriment of mortar compressive strength.