CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tư pháp quốc tế và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Thực tiễn ở Mỹ, châu Âu và khả năng khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân sự cố môi trường Formosa ở Việt Nam / Nguyễn Thị Hồng Trinh // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 2(132) .- Tr. 109 – 116 .- 340
Bài viết khảo sát các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với các công ty mẹ thường trú ở Mỹ và châu Âu để đưa ra những nhận định về khả năng thành công của các đơn kiện này ở cấp độ thẩm quyền của toà án và nội dung luật áp dụng.
2 Trách nhiệm hành chính: Từ lý luận đến thực tiễn lập pháp ở Việt Nam / Nguyễn Cảnh Hợp // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 3(133) .- Tr. 3 – 11 .- 340
Việt Nam đang chuẩn bị sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Việc sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đòi hỏi phải có những luận cứ khoa học và thực tiễn toàn diện sâu sắc, trong đó có vấn đề mang tính nền tảng là trách nhiệm hành chính. Bài viết phân tích lý luận và thực tiễn lập pháp ở Việt Nam liên quan đến vấn đề trách nhiệm hành chính, từ đó giúp xác định đúng đắn hơn định hướng sưả đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
3 Chính sách cổ tức nhằm thu hút nhà đầu tư đối với các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam năm 2019 / Nguyễn Thị Thùy Dung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 7-9 .- 658
Nhóm ngành doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông (XD CTGT) là một nhóm ngành có tính đặc thù cao nên rất cần có các chính sách cổ tức phù hợp để thu hút đầu tư. Bài báo sẽ phân tích về những đặc thù của các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế năm 2019 và đi sâu vào khảo sát kỳ vọng của các nhà đầu tư trên thị trường Việt Nam trong bối cảnh này về chính sách cổ tức của các doanh nghiệp XD CTGT để từ đó đưa ra chính sách cổ tức thu hút đầu tư phù hợp.
4 Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam / Phạm Văn Dũng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 4-6 .- 330
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đem lại nhiều lợi ích và được hỗ trợ mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 nên đã trở thành xu thế tất yếu của thế giới. Ở nước ta, nông nghiệp công nghệ đang hình thành và thu được những kết quả bước đầu. Nông nghiệp công nghệ cao là giai đoạn phát triển mới về chất của nền nông nghiệp nên gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Vì vậy, phát triển nông nghiệp công nghệ cao vừa là thách thức, vừa là cơ hội đối với nền nông nghiệp Việt Nam. Để tận dụng được những cơ hội, vượt được thách thức, cần phải kết hợp sức mạnh của nhà nước và của thị trường.
5 Giải pháp đổi mới hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế / Nguyễn Văn Cương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 10-12 .- 330
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến vị trí của công đoàn trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công đoàn còn lúng túng về mô hình tổ chức và phương pháp hoạt động. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều loại hình doanh nghiệp đang xuất hiện và ngày càng phát triển. Đó là "mảnh đất" cho công đoàn hoạt động, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi công đoàn phải đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp với xu thế mới, phát huy tích cực vai trò của mình trong xã hội.
6 Mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo và công tác quản lý nhân lực: hàm ý cho các doanh nghiệp Việt Nam / Đào Thị Thu Trang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 13-15 .- 658
Đổi mới sáng tạo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, là động lực cho những tiến bộ kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đổi mới sáng tạo gắn chặt với hoạt động của người lao động. Điều này đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa đổi mới sáng tạo và công tác quản lý nhân lực. Bằng hoạt động quản lý tích cực, phù hợp, các cá nhân trong doanh nghiệp mới có đủ điểu kiện để tăng cường những đóng góp có hiệu quả và tạo ra đổi mới sáng tạo. Từ đó, có thể rút ra kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam trong công tác quản lý nhân lực nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo kịp yêu cầu mới của nền kinh tế.
7 Văn hóa và vai trò của văn hóa đối với tổ chức / Phan Thị Thanh Hoa // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 19-21 .- 658
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường, nâng tầm thương hiệu, không còn cách nào khác là phải chú trọng tới văn hóa tổ chức. Trong bài viết này, tác giả đã tổng hợp lại một số khái niệm cơ bản về văn hóa tổ chức, đưa ra một số mô hình đo lường văn hóa tổ chức tiêu biểu, qua đó nhấn mạnh vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
8 Trách nhiệm hành chính: Từ lý luận đến thực tiễn lập pháp ở Việt Nam / Nguyễn Cảnh Hợp // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 3(133) .- Tr. 3 – 11 .- 340
Việt Nam đang chuẩn bị sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Việc sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đòi hỏi phải có những luận cứ khoa học và thực tiễn toàn diện sâu sắc, trong đó có vấn đề mang tính nền tảng là trách nhiệm hành chính. Bài viết phân tích lý luận và thực tiễn lập pháp ở Việt Nam liên quan đến vấn đề trách nhiệm hành chính, từ đó giúp xác định đúng đắn hơn định hướng sưuar đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
9 Nâng cao hiệu quả tự học trong quá trình đào tạo theo tín chỉ ở Trường Đại học Giao thông Vận tải / Hoàng Hải Yến // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 16-18 .- 371.018
Bài viết tập trung đề cập những vấn đề liên quan đến khái niệm tự học, sự cần thiết phải nâng cao năng lực tự học của sinh viên, đặc biệt là quan tâm đến các giải pháp nhằm nâng cao phương pháp tự học cho sinh viên trường Đại học Giao thông Vận tải. Từ đó thúc đẩy quá trình rèn luyện kĩ năng tự học cho sinh viên, góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
10 Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư tư nhân của thành phố Hà Nội / Nguyễn Thạc Hoát, Nguyễn Thị Đông // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 22-24 .- 658
Sau 30 năm thu hút và quản lý các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn. Đặc biệt từ ngày sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội đến nay, hoạt động thu hút và quản lý nhà nước đối với FDI không ngừng được đổi mới và hoàn thiện đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên tác động FDI tới GDP nhỏ hơn so với đầu tư tư nhân và đâu tư công tác. Tác động của GDP tới tăng trưởng kinh tế chỉ tăng ở năm thứ nhất và bắt đầu giảm ở các năm sau đó. Do đó cần phải có chính sách quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vộn FDI và xem xét chính sách ưu đãi đối với FDI phù hợp hơn.