Tổng hợp các nghiên cứu quốc tế về các nhân tố chi phối quyết định lựa chọn khu công nghiệp của các doanh nghiệp sản xuất cũng như lực cạnh tranh của các khu công nghiệp, trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung phương pháp luận cơ bản phục vụ phân tích và xếp hạng khu công nghiệp ở Việt Nam.
Nghiên cứu những tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô lên đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bao gồm 2.202 quan sát doanh nghiệp theo năm của 313 doanh nghiệp niêm yết trên HOSR từ năm 2005-2015. Bất ổn kinh tế vĩ mô được ước lượng dao động của các biến vĩ mô nên kinh tế gồm GDP, IPI, CPI và VN-Index thông qua sử dụng mô hình chuỗi thời gian ARCH/GARCH.
Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ cao trong ngành trộng ở Tây Nguyên, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đồng thời, gợi ý một số giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy ứng dụng nông nghiệp công nghiệp cao trong ngành trồng trọt ở vùng này, tạo động lực mới mang tính đột phá trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn trên địa bàn vùng.
Sử dụng số liệu Điều tra doanh nghiepj VN từ năm 2013-2018 để nghiên cứu của quá trình gia nhập, rời bỏ và đóng góp của các doanh nghiệp tồ tại trong giai đoạn này vào thay đổi năng suất lao động của VN trong lĩnh vực chế biến, chế tạo. Kết quả cho thấy: tỷ lệ các doanh nghiệp tồn tại trong giai đoạn này ở mức cao, xấp xỉ 60%, tuy nhiên, các doanh nghiệp này chỉ chiếm gần 40% doanh nghiệp năm 2017; tăng trưởng năng suất của các doanhn ghiệp tồn tại chiếm phần lớn trong tăng trưởng năng suất của khu vực chế biến chế tạo; ...
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu tại 82 công ty con đang hoạt động tại Việt Nam được trích từ dữ liệu của Ngân hàng Thế giới để kiểm định các giả thuyết. Kết quả hồi quy OLS cho biết rằng, các công ty con đến từ nước có nền thể chế khác biệt lớn được thành lập với hình thức sở hữu độc quyền hoàn toàn thì hối lộ nhiều hơn so với các công ty con được thành lập hình thức sở hữu liên doanh. Những hàm ý về quản trị được cung cấp trong bài viết.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi quản trị lợi nhuận và đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố tới hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán VN.
Nghiên cứu xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến giá trị thương hiệu các doanh nghiệp bán lẻ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; được tiến hành qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, từ đó đưa ra hàm ý quản trị cho nhà quản lý nhằm nâng cao giá trị thương hiệu cho các doanh nghiệp bán lẻ.
Dựa trên các số liệu thống kê toàn cầu về doanh nghiệp khởi nghiệp, bài viết trình bày một số xu hướng nổi bật về thực trạng phát triển khởi nghiệp trên thế giới và Việt Nam hiện nay, qua đó đưa ra một số phân tích ban dầu và hàm ý cho phát triển khởi nghiệp ở Việt Nam.
Dựa trên 397 phiếu khảo sát ý kiến của sinh viên đang theo học tại Trường đại học Thăng Long, nghiên cứu đã chỉ ra ý định khởi nghiệp của sinh viên nhà trường hiện nay đang ở trung bình với 3.66 điểm và có 8 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học Thăng Long theo thứ tự giảm dần từ (1) cảm nhận về tính khả thi khi khởi nghiệp; (2) tác động từ phía nhà trường, (3) cảm nhận năng lực bản thân với khởi nghiệp, (4) thái độ với khởi nghiệp, (5) kỳ vọng bản thân với khởi nghiệp, (6) vốn tài chính, (7) chuẩn mực niềm tin đến, (8) vồn thể chế. Nghiên cứu cũng đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp cho sinh viên Đại học Thăng Long trong những năm tới.
Tổng kết các quan điểm, định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nước, các hình thức triển khai của Chính phủ VN trong 2 giai đoạn tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước; phân tích kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế; đề xuất các nhóm giải pháp thúc đẩy hơn nữa quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ở VN nhằm nâng cao nội lực và vai trò dẫn dắt của nhóm doanh nghiệp này trong phát triển kinh tế.