CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến trong liên minh Châu Âu và khuyến nghị đối với Việt Nam / Nguyễn Ngọc Hà // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 3(133) .- Tr. 83 – 95 .- 340
Liên minh châu Âu đã xây dựng một số cơ chế cho phép giải quyết tranh chấp trực tuyến. Các cơ chế như giải quyết tranh chấp tiêu dùng trực tuyến, giải quyết tranh chấp tên miền .eu trực tuyến hay việc áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết các tranh chấp nhỏ là những bước đi cần thiết thúc đẩy sự phát triển của các cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến tại khu vực. Do đó, nghiên cứu về cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai các cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến tại EU sẽ góp phần rút ra những kinh nghiệm và khuyến nghị cần thiết cho quá trình triển khai các cơ chế tương tự tại Việt Nam.
2 Thủ tục xác lập ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: Trở ngại và giải pháp từ góc độ pháp lý quốc tế / Trần Hữu Duy Minh // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 3(133) .- Tr. 96 – 107 .- 340
Theo Quy tắc thủ tục của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa, các đệ trình liên quan đến một tranh chấp chỉ được xem xét khi có sự đồng ý của tất cả các bên tranh chấp. Do Trung Quốc và Philippines – hai bên trong tranh chấp biển Đông – không đồng ý, hai đệ trình của Việt Nam liên quan đến ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng ở biển Đông đã bị hoãn xem xét. Bài viết phân tích trở ngại thủ tục nêu trên và đề xuất một số giải pháp.
3 Phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong cách mạng công nghiệp 4.0 / Hoàng Thị Duyên // Tài chính .- 2020 .- Số 727 .- Tr. 8 – 11 .- 332.024
Bài viết khái quát những kết quả đạt được trong nổ lực phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam thời gian qua, đưa ra một số kiến nghị gắn với bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 trong thời gian tới.
4 Tác động của quy mô công ty đến quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời: Thực nghiệm tại Việt Nam / Phạm Quốc Việt, Trần Đức Duy // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 727 .- Tr. 17 – 21 .- 332.024
Nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về vai trò của quy mô công ty trong mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời, một mặt nhằm bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hướng nghiên cứu này, mặt khác kỳ vọng là cơ sở cho các hàm ý quản trị trong việc điều chỉnh quy mô công ty nhằm sử dụng đòn bẩy tài chính để tối đa hoa khả năng sinh lời của các công ty tại Việt Nam.
5 Tiềm năng tài nguyên biển Việt Nam / Bùi Hoàng Trung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 67-69 .- 658
Biển và đại dương được xem là giàu tài nguyên thiên nhiên, là không gian sinh tồn của loài người. Tổng giá trị của "nguồn vốn tự nhiên" của biển ước tính đạt ít nhất 24.000 tỷ USD và tổng sản lượng biển hàng năm (GMP) - tương đương với tổng sản lượng quốc nội của quốc gia (GDP) - tối thiểu là 2,5 nghìn tỷ USD. Trên toàn thế giới, khoảng 3 tỷ người có nguồn sinh kế phụ thuộc vào biển và các nguồn lợi từ biển đóng góp 5% GDP toàn cầu. Rõ ràng, tương lai của loài người phụ thuộc rất lớn vào biển, nhất là khi dân số đã vượt mức 7 tỷ người và các nguồn lực trên đất liền dần cạn kiệt hoặc bị ô nhiễm.
6 Ứng dụng công nghệ mở rộng Utaut-2 cho thanh toán không dùng tiền mặt / Trần Mai Đông // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 727 .- Tr. 22 – 25 .- 332.024
Nghiên cứu phân tích sử dụng mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ mở rộng Utau-2 ứng dụng cho một trong những loại hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ dịch cúm covid -19 để tìm hiểu ý định sử dụng của người dùng. Nghiên cứu cho thấy các nhân tố gồm: Hữu ích mong đợi, nỗ lực mong đợi, ảnh hưởng xã hội, điều kiện thuân lợi, động lực hưởng thụ, giá trị cảm nhận, sự tin tưởng ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử.
7 Hoàn thiện pháp luật về hội đồng quản trị trong công ty cổ phần ở Việt Nam / Phạm Quý Đạt // Nghề luật .- 2020 .- Số 5 .- Tr. 20 – 27 .- 340
Hội đồng quản trị luôn có một vị trí, vai trò đặc biệt trong công ty cổ phần và đối với hoạt động quản trị công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn được ban hành đã tiếp tục củng cố vị trí, vai trò quan trọng này của Hội đồng quản trị đối với từng mô hình quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam. Bài viết trình bày khái quát những quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần, từ đó đưa ra những đề xuất, khuyến nghị hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản trị công ty ở Việt Nam hiện nay.
8 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính khu vực công: trường hợp các doanh nghiệp nhà nước / Nguyễn Anh Hiền // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 73-75 .- 658
Báo cáo tài chính là một trong những kênh thông tin để giám sát hoạt động của một doanh nghiệp. Tuy nhiên chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước hiện nay được đánh giá chưa cao. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước là: kiểm soát nội bộ, sự tồn tại của bộ phận kiểm toán nội bộ và việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế.
9 Đẩy mạnh áp dụng hóa đơn điện tử cho các doanh nghiệp / Nguyễn Thu Hằng, Bạch Thị Huyên // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 727 .- Tr. 29 – 31 .- 332.024
Hóa đơn điện tử là một trong những ứng dụng khoa học công nghệ quan trọng vào lĩnh vực kế toán. Giải pháp này mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn trong vấn đề áp dụng, cần thực hiện những giải pháp phù hợp để áp dụng hóa đơn điện tử một cách hiệu quả.
10 Phát triển nền kinh tế xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 70-72 .- 658
Việt Nam đã nhận thức được các yếu tố môi trường, xã hội trong phát triển bền vững kinh tế, do đó, chính phủ đã và sẽ tích hợp yêu cầu nền kinh tế xanh vào các chiến lược, kế hoạch tăng trưởng kinh tế cũng như tái cấu trúc lại nền kinh tế đảm bảo hiệu quả hơn, tăng tính cạnh tranh trong khu vực và hướng ra toàn cầu. Việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, thực hiện tăng trưởng xanh là hết sức cần thiết và phù hợp với xu thế chung hiện nay, trong bối cảnh giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, khôi phục hệ sinh thái, tăng nguồn vốn tự nhiên, bảo vệ môi trường và tăng phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo.