Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu sự tác động của các thành phần trong khái niệm sự trải nghiệm khách hàng tới lòng trung thành khách hàng, và đánh giá vai trò điều tiết của động cơ nhận thức tới các mối quan hệ này trong bối cảnh ngành dịch vụ Việt Nam. Kết quả kiểm định cho thấy cả bốn thành phần trong sự trải nghiệm đều tác động tới lòng trung thành, và động cơ nhận thức không có vai trò điều tiết đối với mối quan hệ giữa tập trung kết quả và lòng trung thành nhưng đóng vai trò điều tiết đối với ba mối quan hệ còn lại. Do đó, nghiên cứu có những đóng góp đáng kể về mặt học thuật và đưa ra một số hàm ý quản trị.
Nguồn lực tâm lý tích cực là một yếu tố mới nổi và được biết đến với vai trò trung gian làm tăng hiệu suất công việc. Dù vậy, các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng vai trò cầu nối của nguồn lực tâm lý tích cực lên mối quan hệ giữa tham gia lập dự toán và hiệu suất lao động vẫn chưa được khám phá ở các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Áp dụng mô hình cấu trúc bình phương bé nhất bán phần với phần mềm SmartPLS 3.2.8 trên một mẫu khảo sát gồm 156 nhà quản lý cấp trung nhằm kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy việc tham gia lập dự toán có tác động tích cực và thuận chiều đến nguồn lực tâm lý tích cực. Nói cách khác, nguồn lực tâm lý tích cực càng cao thì hiệu suất công việc của những người tham gia lập dự toán càng cao.
Trình bày khái niệm Video banking là gì, các giao dịch có thể được xử lý qua Video banking, quy trình giao dịch của Video banking, kinh nghiệm áp dụng tại các nước trên thế giới.
Bài viết điểm lại một số thay đổi chính trong hệ thống văn bản pháp luật PVRT&TTKB của Việt Nam kể từ sau vòng đánh giá đa phương của Nhóm châu Á - Thái Bình Dương (APG) tháng 11/2008 đến nay.
Bài viết sử dụng mô hình kinh tế lượng vĩ mô để đánh giá tác động của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa thương mại đến các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Dựa trên cơ sở số liệu vĩ mô thu thập được theo tần suất quý từ quý I năm 2000 đến quý IV năm 2016, bài viết mô phỏng được tác động của việc cắt giảm 1 điểm phần trăm thuế nhập khẩu khi tự do hóa thương mại đến các biến số kinh tế vĩ mô trong tương lai từ năm 2018 đến năm 2032; từ đó, đề xuất cdc biện pháp nhằm hạn chế tác động xấu của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam.
Nghiên cứu tìm kiếm chất ức chế ung thư từ các môi trường cực trị, vi sinh vật nội sinh là hướng nghiên cứu được quan tâm trong những năm gần đây. Vi sinh vật nội sinh cây rừng ngập mặn đã thể hiện những đặc điểm vượt trội trong khả năng kháng khuẩn, nấm, kháng ung thư, chống oxi hóa và tăng cường miễn dịch. Chủng Streptomyces flavofungini 2E41, nội sinh cây bần (Sonneratia apetala), đã được phân lập và đánh giá có khả năng kháng dòng tế bào ung thư phổi. Cao chiết etylacetate của dịch nuôi cấy S. flavofungini 2E41 kháng dòng tế bào LU với IC50 thấp nhất là 0,32 μg/ml và an toàn với tế bào thường (IC50 > 256 μg/ml với dòng tế bào NIH/3T3). Thời gian nuôi cấy để thu cao chiết có hoạt tính phù hợp nhất tại 96 giờ nuôi cấy, nhiệt độ 30 oC trong môi trường Gause II. Chất có hoạt tính ổn định trong suốt quá trình nuôi cấy.
Đánh giá hàm lượng kim loại nặng trong cây thảo dược có ý nghĩa quan trọng đối với an toàn sức khỏe của người sử dụng. Trong nghiên cứu này, hàm lượng của một số kim loại nặng gồm Pb, Cd và As trong cây ngải cứu, được thu thập tại 12 khu vực khác nhau thuộc các tỉnh miền Bắc Việt Nam, đã được phân tích bằng phương pháp ICP-MS. Giới hạn phát hiện của phương pháp phân tích đối với Pb, Cd và As lần lượt là 0,010; 0,012; 0,045 ppb, độ thu hồi đối với Pb, Cd, As của phương pháp nằm trong khoảng 81,00 – 93,17%. Hàm lượng trung bình của Pb, Cd và As trong các mẫu cây ngải cứu lần lượt là 1,489 mg/Kg (0,247-3,294 mg/Kg); 0,195 mg/Kg (0,068-0,389 mg/Kg); 0,343 mg/Kg (0,149-0,463 mg/Kg). Nhìn chung, hàm lượng của các nguyên tố Pb, Cd và As đều nằm trong giới hạn cho phép đối với cây thảo dược khi so sánh với một số tiêu chuẩn của Canada, Trung Quốc và WHO, ngoại trừ một số mẫu có hàm lượng Cd cao hơn giới hạn cho phép của Cd theo tiêu chuẩn của WHO.
Bào chế viên nang chứa hoạt chất chiết từ chè xanh và nghệ vàng. Chè xanh được chiết xuất bằng phương pháp ngâm nóng, dung môi nước acid pH 3,0. Nghệ vàng được chiết xuất bằng phương pháp ngâm sử dụng bình ngấm kiệt, dung môi aceton 70%. Tỷ lệ dược liệu - dung môi là 1-10. Thời gian chiết 4 giờ, chiết 2 lần. Sau khi loại tạp và sấy khô, nghiền sản phẩm thành bột CX và NV. Bào chế viên nang qua các giai đoạn: cao dược liệu được tạo hạt với tá dược độn Avicel PH101, tá dược dính dung dịch PVP K30 10% trong ethanol 50%, sấy hạt đến độ ẩm khoảng 5%, trộn hạt với tá dược trơn magnesi stearat và talc, đóng vào nang số 0. Viên nang bào chế đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn DĐVN IV về hình thức, định tính, độ đồng đều khối lượng, độ rã, hàm ẩm.