CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Kỹ thuật Lan Phương / Phạm Thị Lan Oanh // Kế toán & Kiểm toán .- 2019 .- Số 187 .- Tr. 82-83 .- 657
Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ - Kỹ thuật Lan Phương; các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh.
2 Hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự và dẫn độ đối với các tội phạm tham nhũng / Đỗ Thị Phượng // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 1(131) .- Tr. 53 – 63 .- 340
Bài viết tập trung vào việc phân tích những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia và thực trạng thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ đối với người phạm tội. Bên cạnh đó bài viết còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tương tợ tư pháp hình sự và dẫn độ người phạm tội.
3 Kế toán thuế tài sản, chuyển đổi từ IAS 17 sang IFRS 16 và ảnh hưởng đến báo cáo tài chính / Vũ Quang Trọng // Kế toán & Kiểm toán .- 2019 .- Số 187 .- Tr. 84-87 .- 657
Trình bày tóm lược sự thay đổi cơ bản về kế toán thuê tài sản đối với bên thuê trong chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 16 được ban hành thay thế cho chuẩn mực kế toán quốc tế số 17. Đồng thời chỉ ra sự ảnh hưởng đáng kể của việc áp dụng chuẩn mực mới về thuê tài sản đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính của bên thuê, đặc biệt đối với các chỉ tiêu trong báo cáo lãi, lỗ và báo cáo tình hình tài chính.
4 Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận trong các doanh nghiệp thương mại / Nguyễn Thị Mai Trâm // .- 2020 .- Số 724 .- Tr. 130– 133 .- 658
Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận (thường được gọi tắt là phân tích CVP) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp. Mục đích của phân tích chi phí - khối lượng - lợi nhuận chính là phân tích cơ cấu chi phí hay nói cách khác là nhằm phân tích rủi ro từ cơ cấu chi phí này. Dựa trên những dự báo về khối lượng hoạt động, doanh nghiệp đưa ra cơ cấu chi phí phù hợp để đạt được lợi nhuận cao nhất.
5 Giới hạn nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật Việt Nam / Nguyễn Thị Kim Thoa // Khoa học pháp lý .- 2020 .- Số 1(131) .- Tr. 82 – 97 .- 340
Bài viết phân tích một số vấn đề pháp lý liên quan đến giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng theo quy định pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra một vài khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
6 Quyền tự do lập hội trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và những thách thức đặt ra cho Việt Nam / Ngô Thị Trang // Khoa học pháp lý .- 2019 .- Số 7(128) .- Tr. 76 – 84 .- 340
Trong số các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã và đang tham gia, CPTPP và EVFTA là hai hiệp định thương mại tự do “thế hệ mới” và nhiều nội dung cam kết mới về lao động, trong đó có cam kết về quyền tự do lập hội. Bài viết phân tích các quy định về quyền tự do lập hội trong Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và chỉ ra những thách thức cho quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật của Việt Nam nhằm thực thi một cách thiện chí, có hiệu quả các hiệp định này.
7 Nguyên tắc bảo mật trong trọng tài đầu tư quốc tế và bình luận về sự bảo mật trong các tranh chấp đầu tư của Việt Nam / Lê Thị Ánh Nguyệt // Khoa học pháp lý .- 2019 .- Số 7(128) .- Tr. 85 – 95 .- 340
Bàn về ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài nói chung và trọng tài đầu tư quốc tế nói riêng so với giải quyết tranh chấp bằng Toà án, các bên liên quan thường chú trọng đến tính chất bảo mật của phương thức này. Sự bảo mật thể hiện rõ nét nhất ở việc không công khai nội dung phán quyết trọng tài, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt nếu các bên tranh chấp đồng ý công khai nội dung phán quyết hoặc theo yêu cầu tố tụng khác đòi hỏi phải công khai phán quyết trọng tài. Bài viết nhằm phân tích tính bảo mật trong các điều ước quốc tế có ghi nhận phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đầu tư, phân tích sự bảo mật trong các tranh chấp đầu tư chống lại Việt Nam và bình luận.
8 Bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm trong quá trình vận hành tàu thyền – pháp luật Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam / Chung Lê Hồng Ân // Khoa học pháp lý .- 2019 .- Số 7(128) .- Tr. 107 – 116 .- 340
Hoa Kỳ và Việt Nam đều là quốc gia ven biển, thành viên của Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra năm 1973 (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định thư 1978 (MARPOL)). Trong khi pháp luật Hoa Kỳ có những quy định tiến bộ và có khả năng áp dụng trên thực tế cao thì các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập cần hoàn thiện. Trên nền tảng phân tích những điểm tiến bộ của pháp luật Hoa Kỳ và so sánh với pháp luật Việt Nam, bài viết sẽ đưa ra những bình luận cũng như giải pháp sửa đổi, bổ sung cho pháp luật Việt Nam.
9 Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật công chức / Phan Lê Hoàng Toàn // Khoa học pháp lý .- 2019 .- Số 8(129) .- Tr. 18 – 26 .- 340
Khiếu nại và giải quyết khiếu nại là vấn đề liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở lĩnh vực nào, khiếu nại và giải quyết khiếu nại cũng đều quan trọng và cần phải được thực hiện một cách đúng đắn, nghiêm minh. Bài viết phân tích các quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật công chức, từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
10 Điều kiện áp dụng chế định hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba trong bộ luật dân sự Việt Nam – So sánh với pháp luật Nhật Bản / Đặng Thái Bình // Khoa học pháp lý .- 2019 .- Số 8(129) .- Tr. 39 – 51 .- 340
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là một loại hợp đồng có điểm đặc trưng là việc thực hiện phải vì “ lợi ích của người thứ ba”. Việc hiểu và áp dụng loại hợp đồng này trên thực tế hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Bài viết phân tích các điều kiện áp dụng chế định loại hợp đồng này trên phương diện của pháp luật Việt Nam và so sánh với các quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) Nhật Bản hiện hành.