Trong bối cảnh toàn cầu hóa và pháp luật ngày càng phức tạp, việc đảm bảo nguồn nhân lực tư pháp chất lượng cao là yếu tố then chốt để duy trì công lý và trật tự xã hội. Bài viết này làm rõ cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm các chức danh thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư tại Trung Quốc thông qua việc khái quát về cơ cấu, chức năng của các cơ quan tư pháp và phân tích chi tiết các quy định về: nghĩa vụ; các tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm; số lượng biên chế; cách thức hành nghề của các chức danh này, từ đó rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong tuyển dụng, bổ nhiệm thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư.
Trong những năm vừa qua, tình hình tội phạm mua bán người có những diễn biến phức tạp. Trong quá trình giải quyết vụ án mua bán người, đặc biệt ở giai đoạn điều tra, hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và vụ án mua bán người nói riêng có vai trò rất quan trọng góp phần giải quyết đúng đắn vụ án. Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động được Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ phục vụ hoạt động chứng minh. Bên cạnh đó, những quy định pháp luật về hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra các vụ án mua bán người còn những hạn chế, bất cập nhật định. Vì vậy, việc đưa ra các đề xuất hoàn thiện BLTTHS năm 2015 về chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án mua bán người có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động thu thập chứng cứ qua khai thác dữ liệu điện tử là một hoạt động phổ biến trong điều tra các vụ án hình sự. Trong phạm vi bài viết, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về hoạt động thu thập chứng cứ qua khai thác dữ liệu điện tử của cơ quan điều tra; chỉ ra một số khó khăn vướng mắc và đề xuất những giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc này.
Việt Nam đang thực sự bước vào kỷ nguyên mới3, khẳng định bản sắc, khát vọng phát triển đất nước. Trong kỷ nguyên mới đó, luật sư luôn được xã hội nhận diện, đánh giá là đội ngũ thể hiện trí tuệ, lòng nhân ái và tinh thần dấn thân, cống hiến cho những giá trị trường tồn của công lý. Những giá trị nghề nghiệp đã được khẳng định qua lịch sử phát triển gần 80 năm của nghề luật sư tại Việt Nam vừa là niềm tự hào, vừa là trách nhiệm to lớn của mỗi luật sư. Bài viết tiếp cận tư duy về nghề luật sư đặt trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới của đất nước qua hai lăng kính: thứ nhất là, làm sao để luật sư luôn đứng vững, phát triển nghề nghiệp trong bối cảnh mới và thứ hai là, làm gì để tiếp tục khẳng định vai trò, vị thế cùng những đóng góp to lớn không thể thay thế của đội ngũ luật sư trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật Tư pháp người chưa thành niên (TPNVTN) nhằm thay thế việc truy cứu trách nhiệm hình sự bằng các biện pháp giáo dục, tư vấn hoặc hòa giải, giúp họ sửa chữa lỗi lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Đây là cách tiếp cận nhân văn, tập trung vào phục hồi thay vì trừng phạt, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và khả năng cải tạo của người chưa thành niên. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, mục đích, nguyên tắc, quy định pháp luật về căn cứ, điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội. Trên cơ sở, nhấn mạnh một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Giáo dục vừa là một quyền con người thiết yếu cho sự phát triển toàn diện của cá nhân, vừa là một phương tiện không thể thiếu để hiện thực hóa các quyền con người khác. Do đó, quyền được giáo dục không chỉ được công nhận phổ biến trong pháp luật quốc tế về quyền con người và pháp luật quốc gia, mà còn đặt ra các nghĩa vụ cụ thể đối với quốc gia trong việc tôn trọng, bảo đảm và thực thi quyền này. Bài viết phân tích nội dung của quyền được giáo dục và các nghĩa vụ quốc gia tương ứng trong pháp luật quốc tế về quyền con người dựa trên các giải thích của ủy ban giám sát điều ước.
Thiết kế bộ điều khiển phân phối mô men xoắn tối ưu cho bộ đồng bộ nam châm vĩnh cửu từ thông trục ba đĩa (AFPMSM ba đĩa) giúp tối ưu hóa hiệu suất đồng thời đảm bảo độ bền, ổn định và khả năng thích ứng trong điều kiện thực tế. Điều này rất quan trọng để tối đa hóa tiềm năng của AFPMSM, đặc biệt là trong ứng dụng hiện đại như xe điện và năng lượng tái tạo. Do đó, một bộ điều khiển tương thích với các hệ thống phức tạp hơn trong tương lai là điều cần thiết. Bài báo này trình bày một hệ thống kết hợp các thuật toán điều khiển mô men xoắn dựa trên mạng nơ-ron truyền ngược (BP-ANN) và Hệ thống suy luận nơ-ron mờ thích ứng (ANFIS). BP-ANN sử dụng cấu trúc nhiều lớp trong đó lớp đầu vào xử lý các yếu tố như mô men xoắn tải, tốc độ quay và dòng điện stato, các lớp ẩn mô hình hóa các tương tác phi tuyến tính phức tạp và lớp đầu ra dự đoán mô men xoắn tối ưu cho hoạt động của AFPMSM. Đào tạo liên quan đến việc giảm thiểu lỗi giữa mô men xoắn dự đoán và thực tế thông qua quá trình giảm dần độ dốc và điều chỉnh lặp lại các trọng số và độ lệch. Bộ điều khiển dựa trên ANFIS nâng cao hiệu suất bằng cách tích hợp việc học mạng nơ-ron với logic mờ để tối ưu hóa mô men xoắn đầu ra. Bằng cách tận dụng thế mạnh của cả BP-ANN và ANFIS, hệ thống cung cấp giải pháp ổn định, hiệu quả và thích ứng cho AFPMSM ba đĩa. Các mô phỏng Matlab/Simulink xác nhận tính hiệu quả của nó, cho thấy sự phân bổ mô-men xoắn cân bằng, giảm tổn thất năng lượng, cải thiện hiệu quả truyền động và khả năng thích ứng với tải trọng đột ngột hoặc thay đổi đường, đảm bảo tính ổn định và tăng cường phản ứng động.
Bê tông rỗng thoát nước đang được ứng dụng rộng rãi trong thực tế với ưu điểm nổi bật về tính thấm nước và khả năng thoát nước bề mặt qua cấu trúc rỗng của bê tông. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, khả năng thoát nước của bê tông rỗng bị suy giảm theo thời gian do các tác nhân gây tắc nghẽn làm giảm hệ số thấm. Đây được xem là một trong những nhược điểm chính của bê tông rỗng thoát nước. Bài báo này trình bày các nguyên nhân gây ra hiện tượng tắc nghẽn, được xác định bằng thực nghiệm khi sử dụng các tác nhân tắc nghẽn phổ biến như đất sét và cát. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện tượng tắc nghẽn phụ thuộc vào độ rỗng thiết kế và đặc tính độ rỗng của bê tông rỗng, chiều dày của bê tông rỗng thoát nước theo phương thấm nước và kích thước hạt của tác nhân tắc nghẽn. Hệ số thấm giảm mạnh ở những lần bổ sung tác nhân gây tắc nghẽn đầu tiên, trạng thái tác nhân tắc nghẽn xâm nhập vào trong cấu trúc rỗng sẽ quyết định sự ảnh hưởng đến hệ số thấm cũng như khả năng loại bỏ và các biện pháp bảo dưỡng, duy trì khả năng thoát nước của bê tông rỗng.
Bài báo xây dựng lời giải giải tích theo lý thuyết tấm bậc nhất đơn giản để phân tích dao động của tấm được chế tạo từ vật liệu FGM đàn hồi-điện-từ có vi bọt rỗng trong cấu tạo vật liệu (Po-FGMEE), tấm được đặt trên nền đàn hồi Kerr. Vật liệu Po-FGMEE được giả thiết có cơ tính biến thiên tuân theo quy luật hàm lũy thừa. Các phương trình cân bằng được thiết lập từ nguyên lý Hamilton và được giải bằng phương pháp giải tích sử dụng dạng nghiệm Navier. Độ tin cậy của mô hình và chương trình tính toán được kiểm chứng qua so sánh với các kết quả đã công bố. Các khảo sát số được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các tham số nền đàn hồi, chỉ số tỷ lệ thể tích của vật liệu Po-FGMEE, điện áp - từ trường bên ngoài, kiểu phân bố vi bọt rỗng, hệ số vi bọt rỗng và các kích thước hình học đến tần số dao động của tấm Po-FGMEE đặt trên nên đàn hồi.
Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá tính ứng dụng của cốt thép có mũ trong kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) bán lắp ghép tại Việt Nam để giải quyết các vấn đề về độ bền và khả năng chống phá hủy lũy tiến. Kết quả nghiên cứu cho thấy cốt thép có mũ mang lại nhiều lợi ích so với cốt thép truyền thống, như giảm chiều dài neo và tăng cường khả năng chịu lực. Qua thí nghiệm kéo, cốt thép có mũ sử dụng phương pháp hàn nối ‘T’ thấu hoàn toàn đã chứng tỏ tính khả thi với giới hạn chảy và độ bền đáp ứng yêu cầu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng làm rõ cơ chế chống phá hủy lũy tiến của nút dầm-cột trong BTCT bán lắp ghép dưới kịch bản mất cột giữa, khẳng định hiệu suất vượt trội của cốt thép có mũ trong việc truyền tải trọng, đặc biệt ở giai đoạn biến dạng lớn. Mặc dù việc sử dụng cốt thép có mũ làm cốt thép dọc trong các cấu kiện BTCT chưa phổ biến ở Việt Nam do thiếu tiêu chuẩn hướng dẫn, chúng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao an toàn và độ bền của các công trình. Nghiên cứu này đề xuất thúc đẩy tiêu chuẩn hóa và ứng dụng cốt thép có mũ trong ngành xây dựng tại Việt Nam.