CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn: Cam kết trong CPTPP, Pháp luật một số quốc gia và bài học cho Việt Nam / Trần Thị Thu Phương // Luật học .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 73 – 87 .- 340
Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn có thể hiểu là tin nhắn điện tử nhằm mục đích thương mại được gửi đến người nhận mà không có sự đồng ý của người này. Việc quản lý tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn đã được nhiều quốc gia quan tâm và ban hành pháp luật điều chỉnh. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về tin nhắn quảng cáo, thư điện tử quảng cáo, thư rác. Khi tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, Việt Nam có cam kết về việc kiểm soát tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. Trên cơ sở các cam kết này và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Australia, NewZeland...bài viết hướng tới mục tiêu nhận diện tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn theo cam kết trong CPTPP và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành để đánh giá sự tương thích, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam theo hướng phù hợp với các cam kết trong CPTPP.
2 Cam kết của Việt Nam về mua sắm chính phủ trong CPTPP và giải pháp thực thi / Lê Đình Quyết // Luật học .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 88 – 96 .- 340
Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam trong lĩnh vực mua sắm chính phủ nhưng cũng đặt ra những thách thức lớn trong lĩnh vực này. Khai thác có hiệu quả các cam kết về mua sắm chính phủ đặt ra yêu cầu đối với Chính phủ Việt Nam trong việc nâng cao vai trò quản lý về mua sắm công. Để thực hiện được điều này Việt Nam cần: hoàn thiện môi trường pháp lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm công; đổi mới tổ chức thực hiện quản lí nhà nước về đấu thầu mua sắm công, nâng cao chất lượng về nhân sự trong lĩnh vực quản lí nhà nước về đấu thầu mua sắm công; ban hành chính sách nhằm khuyến khích các nhà thầu trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh.
3 Kiểm tra tính hợp hiến của văn bản Luật sau khi ban hành theo pháp luật cộng hoà Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam / Nguyễn Võ Linh Giang // Luật học .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 3 – 14 .- 340
Bài viết trình bày sơ lược lịch sử ra đời của chế độ kiểm tra tính hợp hiến của văn bản luật sau khi ban hành theo quy định của pháp luật Cộng hoà Pháp; giới thiẹu các quy định và một số án lệ về thủ tục này tại các toà án cũng như tại Hội đồng Bảo hiến; so sánh với quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm tra tính hợp hiến của văn bản luật sau khi ban hành; đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về trình tự, thủ tục kiểm tra tính hợp hiến của văn bản luật sau khi được ban hành dựa trên kinh nghiệm của Cộng hoà Pháp.
4 Thu thập chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự / Nguyễn Thị Thu Hà // Luật học .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 15 – 29 .- 340
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn còn có những quy định chưa thực sự tạo điều kiện cho đương sự có được đầy đủ chứng cứ để chứng minh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước toà án cũng như hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Bài viết chỉ ra sự khác biệt về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự của một số nước, trên cơ sở đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thu thập chứng cứ của đương sự.
5 Những giá trị của Luật tục về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai vùng Tây Nguyên / Tô Văn Hoà // Luật học .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 30 – 40 .- 340
Tình trạng tranh chấp đất đai ở vùng Tây Nguyên trong những năm vừa qua diễn ra hết sức gây gắt, trong đó có nhiều tranh chấp liên quan tới đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ - nhóm dân cư chiếm số lượng thứ hai ở khu vực này hiện nay. Bài viết cung cấp một góc nhìn về luật tục các dân tộc Tây Nguyên điều chỉnh mối quan hệ liên quan tới đất đai cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai truyền thống và rút ra những giá trị đáng tham khảo phục vụ cho việc giải quyết một cách hiệu quả các tranh chấp đất đai có liên quan tới dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay. Các giá trị đó bao gồm: Đề cao tinh thân hoà giải giữa hai bên; đề cao uy tín của người phân xử; coi trọng lí lẽ, chứng cứ trong phân xử; quá trình phân xử tranh chấp luôn thể hiện tính khách quan, trung thực, công khai và minh bạch.
6 Hoàn thiện quy định về bị hại trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 / Vũ Gia Lâm // Luật học .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 41 – 51 .- 340
Bài viết phân tích các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bị hại từ các góc độ khác nhau như khái niệm, quyền và nghĩa vụ của bị hại và việc bảo đảm thực hiện, nhận xét, đánh giá các các quy định về quyền và nghãi vụ của bị hại trong tố tụng hình sự và việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị hại; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật tố tụng hình sự, bảo đảm tốt quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, góp phần giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đầy đủ.
7 Pháp luật về hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính – Bất cập và kiến nghị hoàn thiện / Cao Vũ Minh // Luật học .- 2020 .- Số 3 .- Tr.52 – 66 .- 340
Trên cơ sở chỉ ra các bất cập trong quy định pháp luật về hình thức xử phạt như: Điều kiện để áp dụng không rõ ràng, việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi để áp dụng hình thức xử phạt chưa hợp lý; chưa quy định quyền giải trình đối với trường hợp chủ thể vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt...Bài viết đề xuất giải pháp tương ứng nhằm hoàn thiện pháp luật như: loại bỏ điều kiện “lỗi” khi áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện; thừa nhận quyền giải trình đối với trường hợp chủ thể vi phạm bị áo dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
8 Định giá tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam / Lê Thị Thảo // Luật học .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 67 – 79 .- 340
Việc định giá tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng và định giá tài sản nói chung là khâu quan trọng, quyết định đến giá trị khoản tín dụng được vay mà ngân hàng có thể cấp cho khách hàng, tạo cơ sở pháp lí cho khoản vay, hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Hiện nay, việc định giá tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại chưa thống nhất, pháp luật điều chỉnh vấn đề nằm rải rác trong nhiều văn bản. Trên cơ sở làm rõ thực trạng này, bài viết đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động định giá tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
9 Hoàn thiện kế toán doanh thu tại doanh nghiệp viễn thông / Nguyễn Diệu Linh // Kế toán & Kiểm toán .- 2019 .- SỐ 10 .- Tr .64-67 .- 657
Kết quả khảo sát và phỏng vấn chuyên gia tại 5 doanh nghiệp viễn thông được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam là Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Viettel (Viettel), Tổng công ty Viễn thông MobiFone (MobiFone), Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VinaPhone), Công ty cổ phần viễn thông di động Vietnamobile (Vietnam Mobile), Công ty cổ phần viễn thông di động toàn cầu (Gtal Mobile), tác giả nhận thueets 3 doanh nghiệp (Viettel, MobiFone, VinaPhone) không ghi nhận doanh thu từ việc bán thẻ cào. 2 doanh nghiệp Gtel Mobile và Vietnam Mobile ghi nhận doanh thu hợp đồng dịch vụ trả trước tại thời điểm cuối kỳ, sau khi xác định được lưu lượng thực tế mà khách hàng sử dụng. Điều đó dẫn đến sự không thống nhất trong việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu đối với hợp đồng cung cấp dịch vụ trả trước giữa các doanh nghiệp và ảnh hưởng tới nguyên tắc do sánh trong việc lập báo cáo tài chính của các doanh nghiệp viễn thông.
10 Xây dựng thẻ điểm cân bằng bền vững tại các doanh nghiệp khai khoáng Bình Định / Nguyễn Thị Kim Tuyến // Kế toán & Kiểm toán .- 2019 .- Số 10 .- Tr. 55-59 .- 657
Thẻ điểm cân bằng bền vững là công cụ quản lý chiến lược bền vững, thực hiện trách nhiệm môi trường, xã hội của doanh nghiệp. Thẻ điểm cân bằng cung cấp khuôn khổ tích hợp các khía cạnh kinh tế, môi trường, xã hội thành một hệ thống quản lý duy nhất mang lại thành công cho doanh nghiệp. Khai khoáng là ngành công nghiệp nhạy cảm với môi trường theo quyết định cố 04/2012/QĐ-BTNMT. Vì vậy, sử dụng thẻ điểm cân bằng bền vững vào quản trị chiến lược bền vững trong các doanh nghiệp khai khoáng là hết sức cần thiết. Điều này giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu các bên liên quan và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả xây dựng thẻ điểm cân bằng bền vững cho các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tính Bình Định.