Bài viết sử dụng mô hình hồi quy Random-effects(REM) để nghiên cứu các yếu tố tác động đến thanh khoản tại 29 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong gia đoạn 2014-2018 (tương đương 145 quan sát). Kết quả nghiên cứu cho thấy, thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam bị tác động bởi các yếu tố sau: Quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn, tỷ lệ lợi nhuận, tỷ lệ dự phòng tín dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và khả năng thanh toán nhanh. Từ những kết quả đạt được trong nghiên cứu, tác giả đưa ra các gợi ý chính sách nhằm nâng cao khả năng thanh khoản cho các cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tương lai.
Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước phát triển mới cả về lượng và chất, tuy nhiên rủi ro thanh khoản vẫn luôn là vấn đề "nóng" đặt ra đối với tất cả các ngân hàng thương mại. Do vậy, bên cạnh việc tự ý thức nâng cao chất lượng thanh khoản, quản lý rủi ro thì việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về đảm bảo khả năng thanh khoản là cần thiết, nhằm góp phần nâng cao công tác quản trị rủi ro nói riêng và đảm bảo sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong khu vực công đang là thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập toàn cầu, nhu cầu và nguồn nhân lực ngân sách hạn chế, chúng ta cần phát huy được đồng bộ nhiều cách tiếp cận để thay đổi nâng cao hiệu quả hoạt động. Bài nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò của phong cách lãnh đạo chuyển dạng và học tập của tổ chức đến hiệu quả của tổ chức. Kết quả khảo sát từ 180 cán bộ, công chức, viên chức tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chứng minh vai trò tích cực của hai nhân tố này đến hiệu quả của tổ chức, và qua đó khẳng định việc chú trọng đến hai nhân tố này là cần thiết vì chi phí không cao nhưng có thể đem lại những kết quả rất tích cực.
Giàu tiềm năng, Việt Nam đang nằm trong top 6 quốc gia đang phát triển được đầu tư mạnh nhất mảng bán lẻ hàng tiêu dùng. Thị trường bán lẻ Việt Nam nói chung và bán lẻ mặt hàng mẹ và bé nói riêng thời gian qua chứng kiến sự tăng trưởng về số lượng và quy mô, hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh những cơ hội mà quá trình hội nhập kinh tế và thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại, hoạt động của các doanh nghiệp trong thị trường mẹ và bé đang đứng trước nhiều thách thức. Bài viết tập trung đưa ra ba thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp truyền thống kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ mặt hàng mẹ và bé, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay.
Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái nguyên là một trong các cơ sở đào tạo có bề dày về lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực Kế toán. Trong những năm qua, nhà trường đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể như đổi mới chương trình, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên, nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật.. để đáp ứng nhu cầu đào tạo của ngành kế toán hiện nay. Tuy nhiên trong quá trình triển khai đào tạo, nhà trường đã gặp phải một số vấn đề tồn tại cần phải khắc phục để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kế toán tại cơ sở đào tạo này.
Vấn đề phát triển bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học". Để góp phần thực hiện phát triển bền vững, khái niệm tiêu dùng bền vững/tiêu dùng xanh/tiêu dùng sinh thái xuất hiện ngày càng nhiều trong các nghiên cứu trong và ngoài nước.
Sáng kiến xây dựng "Hai hành lang, một vành đai" được Việt Nam đưa ra tháng 5/2004, trong chuyến thăm Trung Quốc của cố Thủ tướng Phan Văn Khải. Đó là hai vành đai hành lang kinh tế"Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng", hành lang "Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng" và một "Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ". Đây là một sáng kiến hợp tác có tính liên vùng và xuyên quốc gia, nhằm tận dụng và khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của các địa phương mà "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" đi qua, đồng thời phát huy vai trò lan tỏa của nó đối với các địa phương khác thuộc Tây Bắc, Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam và vùng Tây Nam Trung Quốc.
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam và trong đó có doanh nghiệp kinh doanh sữa với mặt hàng sữa chua đã và sẽ đối diện với cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt. Trong phạm vi bài viết này tác giả đề cập đến các chỉ tiêu xác định năng lực cạnh tranh sản xuất sữa chua, dựa vào đó để đánh giá thực trạng và đưa ra các kiến nghị chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm và hiệu quả kinh doanh mặt hàng sữa chua của các doanh nghiệp kinh doanh sữa Việt Nam.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp trong thời đại hiện nay vẫn là một nguồn lực quan trọng nhất mà chưa thay thế được. Xuất phát từ thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay là xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, tác giả nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong trường hợp cụ thể tại Công ty TNHH Cơ khí Quốc Minh.
Gạo là một mặt hàng xuất khẩu mạnh của Việt Nam. Thống kê năm 2015 cho thấy, trong năm này Việt Nam đã xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo. Tuy nhiên, vị thế và thương hiệu của sản phẩm gạo Việt Nam trên thị trường các nước khu vực và thị trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Việc nâng cao chất lượng gạo và giá trị của thương hiệu gạo Việt là một hoạt động vô cùng cần thiết khi tính cạnh tranh hàng nông sản gạo trên trường quốc tế là khá cao và giá trị gạo Việt Nam còn thấp. Bài viết đề cập đến một số khía cạnh: chất lượng sản phẩm gạo Việt Nam và thực trạng, các tồn đọng trong giải quyết bài toán thương hiệu Gạo Việt đồng thời đưa ra một số giải pháp.