CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Chiết tự và lược sử nghiên cứu về chiết tự chữ Hán / Lê Quang Sáng // Nghiên cứu Trung Quốc .- 2020 .- Số 6(226) .- Tr. 47-61 .- 400
Giới thiệu sơ lược về chiết tự, làm rõ hơn khái niệm “chiết tự”, các dạng chiết tự và các nghiên cứu về chiết tự, hy vọng góp thêm tài liệu, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan khi nghiên cứu và dạy học chữ Hán ở Việt Nam.
2 Các giới từ định vị “at, in, on” trong tiếng Anh và việc đối dịch sang tiếng Việt qua khung tham chiếu định vị / Nguyễn Thị Tuyết Hạnh // Khoa học (Trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh) .- 2020 .- Số 17 (1) .- Tr. 73-81 .- 400
Trình bày sự biện giải của quá trình đối dịch về sự tương đồng cũng như khác biệt về mặt nghĩa của giới từ định vị “at, in, on” trong tiếng Anh với các đơn vị ngôn ngữ định vị tương ứng trong tiếng Việt qua những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.
3 Ẩn dụ cấu trúc “con người là vật dụng nhà bếp” trong thành ngữ và ca dao tiếng Việt / Nguyễn Đình Việt // Khoa học (Trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh) .- 2020 .- Số 17 (4) .- Tr. 575-583 .- 400
Vận dụng lý thuyết về ẩn dụ dụ cấu trúc của ngôn ngữ học tri nhận để đi sâu khám phá ẩn dụ con người là vật dụng nhà bếp trong thành ngữ và ca dao tiếng Việt.
4 Mô hình tri nhận ẩn dụ ý niệm của kết cấu “X + từ chỉ bộ phận cơ thể người” trong tiếng Anh / Trần Trung Hiếu // Khoa học (Trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh) .- 2020 .- Số 17 (4) .- Tr. 692-704 .- 400
Phân tích các mô hình ẩn dụ ý niệm trong kết cấu “X+ từ chỉ bộ phận cơ thể người” trong tiếng Anh. Phân tích các ánh xạ ý niệm và cơ sở tri nhận của chúng, cũng như cách thức mà các kết cấu “X+ từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh nói riêng người Anh – Mĩ nói chung, đồng thời đặt ra một giả thuyết về mô hình của tư duy và văn hóa Anh – Mĩ.
5 Đặc điểm văn hóa biểu hiện qua từ ngữ nghề bánh truyền thống ở Nam Bộ / Đỗ Thị Yên // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2020 .- Số 10 (303) .- Tr. 117-122 .- 400
Phân tích, khái quát những đặc trưng văn hóa Nam Bộ thể hiện qua từ ngữ nghề bánh truyền thống, đồng thời làm sáng rõ thêm những sắc thái văn hóa riêng của vùng đất phương Nam Tổ quốc.
6 Động từ chỉ tâm trạng trong đờn ca tài tử Nam Bộ / Trần Thanh Vân, Hoàng Thị Hương // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2020 .- Số 10 (303) .- Tr. 111-116 .- 400
Chỉ ra đặc điểm cơ bản của động từ chỉ tâm trạng trong Đờn ca Tài tử Nam Bộ, đồng thời rút ra một số đặc trưng riêng trong việc sử dụng động từ chỉ tâm trạng của người Nam Bộ so với người ở vùng đất khác. Qua đó rút ra một số đặc trưng văn hóa của người Nam Bộ qua việc sử dụng động từ chỉ tâm trạng trong Đờn ca tài tử Nam Bộ.
7 Cách sử dụng các phương tiện liên kết từ vựng trong các bài viết thư tiếng Anh của sinh viên Việt Nam / Phan Thị Ngọc Lệ // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2020 .- Số 09 (302) .- Tr. 44-50 .- 400
Phân tích xu hướng của sinh viên đối với việc sử dụng các phương tiện liên kết từ vựng. Tìm ra các phương tiện được sinh viên sử dụng thường xuyên nhất trong văn bản.
8 Phân tích lỗi ngữ pháp trong quá trình thực hành dịch Hán – Việt của sinh viên trình độ sơ cấp ngành ngôn ngữ Trung Quốc / Trần Trương Huỳnh Lê, Lê Minh Thanh, Hoàng Tố Nguyên // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2020 .- Số 09 (302) .- Tr. 67-72 .- 400
Phân tích và phân loại lỗi sai thường gặp trong quá trình thực hành dịch, và từ góc độ đối chiếu ngôn ngữ, bài viết bước đầu giải thích nguyên nhân gây ra sự lệch chuẩn trong bản dịch.
9 Thiết kế dạy kĩ năng nói tiếng Anh theo đường hướng ngữ cảnh Hóa / Hoàng Ngọc Tuệ, Nguyễn Thị Thanh Bằng // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2020 .- Số 09 (302) .- Tr. 73-76 .- 400
Trình bày khái quát lý thuyết về ngữ cảnh hóa ngôn ngữ và đề xuất một số hoạt động dạy – học kỹ năng nói tiếng Anh theo đường hướng ngữ cảnh hóa.
10 Kết hợp từ ngữ bất thường – một dạng tín hiệu thẫm mĩ đặc biệt trong ngôn ngữ thơ ca / Lê Thị Thùy Vinh // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2020 .- Số 09 (302) .- Tr. 93-100 .- 400
Trình bày tín hiệu thẫm mĩ trong ngôn ngữ thơ ca ở bình diện ngữ pháp, cụ thể là xem xét sự xuất hiện của những kết hợp từ ngữ bất thường trong thơ như là một cách thức trong việc xấy dựng hình tượng thơ ca hoặc “chỉ dấu” trong việc “lạ hóa” ngôn ngữ thơ.