Sự phát triển các thước đo chất lượng thể chế quản trị địa phương trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy tầm quan trọng của vấn đề thể chế, đồng thời cũng trở thành nguồn dữ liệu nghiên cứu của giới học giả từ đầu thế kỷ XXI. Dựa trên tổng quan nghiên cứu về các thước đo chất lượng thể chế quản trị và phương pháp xây dựng chỉ số từ kết quả phân tích nhân tố khám phá, nghiên cứu này đề xuất một thước đo chất lượng thể chế quản trị địa phương từ hai nguồn dữ liệu PAPI và PCI. Thước đo này vừa phù hợp với đặc điểm thu thập số liệu, vừa đảm bảo bao hàm đầy đủ các khía cạnh của thể chế quản trị, từ đó có thể làm cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng và vai trò của thể chế đến các biến số như tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội... tại Việt Nam.
Kinh tế chia sẻ (sharing economy) được bàn luận nhiều ở Việt Nam trong thời gian gần đây và Chính phủ Việt Nam thống nhất xây dựng đề án thí điểm cho một số lĩnh vực hoạt động. Bên cạnh lĩnh vực vận tải với các thương hiệu như Grab, GoViet, Be, lĩnh vực dịch vụ lưu trú có mô hình AirBnB, chia sẻ nhà ở với sự tham gia của nhiều khách sạn và các cơ sở lưu trú. Mô hình Airbnb tại Việt Nam đã đem đến rất nhiều ích lợi cho cả người cho thuê và người đi thuê. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra không ít rủi ro, thách thức đối với người dùng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Nghiên cứu này tập trung phân tích thực tiễn mô hình kinh doanh của AirBnB dưới góc độ pháp lý nhằm làm rõ mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong mô hình thông qua việc phân tích mô hình kinh doanh và để đưa ra những đề xuất và kiến nghị đối với các bên có liên quan.
Nghiên cứu này đo lường mức độ tác động của mạng lưới quan hệ của nhà khởi nghiệp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp. Bằng phương pháp hồi quy bội với cỡ mẫu là 150 doanh nghiệp khởi nghiệp, kết quả nghiên cứu cho thấy: quan hệ với cán bộ Chính phủ, quan hệ xã hội và quan hệ với đối tác kinh doanh tác động cùng chiều đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp trong giai đoạn đầu. Nghiên cứu đã đem lại ý nghĩa thực tiễn cho nhà khởi nghiệp cần chú trọng xây dựng mạng lưới quan hệ trong giai đoạn đầu nhằm cải thiện kết quả hoạt động, giảm thiểu tỉ lệ khởi nghiệp thất bại. Cuối cùng, nghiên cứu đã đưa ra một hàm ý quản trị, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Làn sóng công nghệ mới trong thời kì chuyển đổi số đang thay đổi căn bản cách thức cạnh tranh, vận hành và Marketing của doanh nghiệp. Phân tích chuỗi nhấp chuột - một lĩnh vực mang tính liên ngành liên quan đến dữ liệu lớn và phân tích web - là một công cụ mạnh giúp doanh nghiệp nắm bắt được xu thế và phân tích sâu hành vi của khách hàng. Tuy nhiên, đối với hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, việc áp dụng công cụ phân tích này vẫn còn chưa bắt đầu hoặc còn rất sơ khai vì thiếu một nền tảng phù hợp cho việc phân tích dữ liệu chuỗi nhấp chuột và tích hợp ứng dụng phân tích vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả thực hiện một nghiên cứu tổng quan về ứng dụng phân tích chuỗi nhấp chuột trong hỗ trợ ra quyết định Marketing, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam về vấn đề triển khai ứng dụng này trong thời kì chuyển đổi số.
Nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm tra tác động của giá trị cảm nhận đến ý định vay vốn lại của khách hàng cá nhân. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với 250 mẫu từ khách hàng đến vay vốn tại ngân hàng Agribank huyện Bác Ái – Ninh Thuận. Kết quả cho thấy cả 4 nhân tố giá trị tiền tệ, giá trị thuận tiện, giá trị cảm xúc và giá trị xã hội đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định vay vốn lại của khách hàng. Trong đó, giá trị cảm xúc có tác động mạnh nhất đến ý định vay vốn lại của họ. Từ kết quả nghiên cứu, giúp Ban lãnh đạo ngân hàng này hiểu rõ các nhân tố giá trị cảm nhận ảnh hưởng đến ý định vay vốn lại của khách hàng để đưa ra những giải pháp nhằm thu hút ý định vay vốn lại của họ.
Bài báo này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu trường hợp của tỉnh Kiên Giang. Kết quả phân tích 457 mẫu khảo sát doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu của tỉnh với phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), cho thấy có 10 nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Các nhân tố ảnh hưởng sắp xếp theo thứ tự giảm dần như sau: Năng lực sản xuất (0,174), Năng lực marketing (0,159), Năng lực liên kết và tạo lập các mối quan hệ (0,149), Năng lực thâm nhập thị trường (0,147), Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp (0,146), Năng lực tài chính (0,135), Thể chế chính sách (0,132), Nguồn nhân lực (0,130), Năng lực công nghệ và đổi mới (0,127), và Trách nhiệm xã hội (0,078). Kết quả rút ra những hàm ý quản trị về học thuật cũng như thực tiễn, góp phần giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Bằng phương pháp chi phí du hành theo vùng, nghiên cứu đã xác định được đường cầu du lịch (VR = 57,750 - 9,148. 10-5 x TC) của du khách trong nước đối với rừng bần ngập mặn (rừng bần ngập mặn) huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị du lịch của rừng bần ngập mặn huyện Cù Lao Dung mang lại cho toàn xã hội và nền kinh tế của huyện trong một năm quy đổi dưới dạng tiền tệ là khoảng 327 tỷ VND. Các công ty cung cấp dịch vụ du lịch đến rừng bần ngập mặn huyện Cù Lao Dung hàng năm đạt được lợi ích mang lại tương đương 291 tỷ VND từ làm dịch vụ cho du khách và thặng dư của du khách có được từ đi du lịch đến rừng bần ngập mặn huyện Cù Lao Dung là khoảng 36 tỷ VND. Các kết quả này đóng góp thêm minh chứng cho lý thuyết giá trị cảnh quan và phương pháp chi phí du hành.
Nghiên cứu này nhằm đo lường và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với rủi ro của nông hộ trồng bắp lai ở đồng bằng sông Cửu Long, sử dụng phương pháp thực nghiệm của Eckel & Grossman (2002). Thái độ đối với rủi ro được đo lường bởi trò chơi lựa chọn rủi ro có phần thưởng thật sự. Hệ số e ngại rủi ro trong trò chơi được xác định dựa vào hàm hữu dụng với giả định rủi ro từng phần không đổi (CPRA). Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được từ một cuộc khảo sát 240 nông hộ trồng bắp ở đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 44,17% nông dân có thái độ cực kỳ sợ rủi ro; 23,75% có thái độ rất sợ; 12,92% có thái độ sợ ở mức trung bình; 5,42% có thái độ tương đối sợ; 2,08% có thái độ ít đến trung dung với rủi ro và 11,66% có thái độ ưa thích đối với rủi ro. Kết quả ước lượng mô hình Ordered logit cho thấy học vấn, sự tham gia đoàn thể, kinh nghiệm sản xuất, tham gia tập huấn sản xuất của nông dân và sự đa dạng hóa thu nhập là các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến thái độ đối với rủi ro của nông hộ.
Mục đích của nghiên cứu này là thiết kế kiến trúc công nghệ thông tin tổng thể cho các trường đại học sư phạm ở Việt Nam nhằm hỗ trợ các đơn vị này xây dựng hệ thống thông tin tổng thể đáp ứng được nhu cầu hiện tại và có thể thích ứng được trong tương lai. Hệ thống thông tin của các trường đại học hiện có được phát triển độc lập, đa nền tảng nên khi xây dựng một hệ thống thông tin tổng thể sẽ gặp không ít thách thức trong việc kế thừa các hệ thống sẵn có để chuyển đổi sang hệ thống mới đáp ứng được tầm nhìn, chiến lược và những yêu cầu nghiệp vụ mới. Nghiên cứu ngày được thực hiện bằng việc sử dụng khung kiến trúc TOGAF kết hợp với kiến trúc hướng dịch vụ SOA và phương pháp xây dựng phần mềm linh hoạt AGILE. Đồng thời, để kiểm chứng cho tính khả thi của thiết kế chúng tôi thực hiện một dự án thực nghiệm tại một trường đại học với bài toán xác định KPIs của giảng viên.
Sử dụng phương pháp phân tích thống kê và mô hình bao dữ liệu ( Data envelopmnt analysis - DEA) để đánh giá về thực trạng tự chủ tài chính trong lĩnh vực y tế tại Tp. HCM từ năm 2012 đến nay, qua đócàng khẳng định tính đúng đắn của chính sách tăng cường tựu chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và bệnh viện công lạp nói riêng.