Sau 30 năm đổi mới, nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng sáng tỏ hơn. Kinh tế thị trường phát triển đã góp phần khẳng định: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm, bài học đúc kết từ thực tiễn tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức rõ hơn về phát triển công nghiệp sáng tạo. Nền kinh tế sáng tạo giúp ích được rất nhiều cho sự phát triển kinh tế và làm giàu cho một quốc gia. Theo một nghiên cứu của Công ty tư vấn PwC, mức tăng trưởng của kinh tế sáng tạo ước tính sẽ vượt xa mức tăng trưởng kinh tế trung bình thế giới(4,6 % vào năm 2021, cao hơn 4,2 % mức trung bình của tất cả nền kinh tế). Bài viết trao đổi về xu thế phát triển kinh tế sáng tạo và đưa ra một khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế sáng tạo ở Việt Nam.
Dưới áp lực cạnh tranh và làn sóng số hóa ngân hàng trên toàn thế giới, các ngân hàng buộc phải đổi mới, số hóa các mảng hoạt động để bắt kịp xu thế ngân hàng số trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức, trong đó đặc biệt là vấn đề bảo mật, kiểm soát rủi ro, bảo vệ thông tin khách hàng . Bài viết trao đổi về thực trạng phát triển ngân hàng số tại Việt Nam hiện nay, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy xu thế này phát triển trong thời gian tới.
Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Trước tình hình này, các ngân hàng đã tiến hành trích lập dự phòng để có nguồn tài chính ổn định nhằm bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đồng thời bảo toàn nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
Trong nhiều năm qua, hệ thống Ngân hàng đã đạt được những kết quả rất quan trọng về xử lý nợ xấu, khai thông hàng trăm ngàn tỷ đồng nợ đọng đưa vào đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, từ giữa năm 2017, việc thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nâng cao năng lực tài chính cho ngân hàng thương mại. Mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 đạt được nhiều bước tiến lớn. Tuy nhiên, trong thực tiễn đang tiếp tục phát sinh những khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ để hoạt động xử lý nợ xấu đạt được hiệu quả cao hơn, khai thông dòng vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho tăng trưởng bền vững nền kinh tế.
Hiện nay, cơ chế, chính sách về công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp đã được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ. Điển hành như: Luật Kế toán năm 2015, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ và Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp. Những văn bản này qui định chi tiết về báo cáo tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp và được các chuyên gia kế toán đánh giá khá hoàn thiện để làm cơ sở như nguồn thông tin đầu vào quan trọng để xây dựng báo cáo tài chính tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, từ đó đưa ra một số vấn đề mà các đơn vị hành chính sự nghiệp cần lưu ý trong quá trình triển khai.
Trình bày thực trạng kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp chế biến gỗ khu vực Nam Trung Bộ, thống qua phỏng vấn và khảo sát bằng bảng hỏi điều tra với nhà quản trị của 120 doanh nghiệp. Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí nhằm tăng cường khả năng kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng chi phí tại các doanh nghiệp.
Phân tích sự khác biệt về kế toán doanh nghiệp xây lắp nói riêng và công tác quản lý nói chung giữa các doanh nghiệp xây lắp và doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác. Trên cơ sở đó, tác giả lưu ý về những vấn đề cần nắm vưng trong công tác quản lý, đặc biệt là những lưu ý về công tác kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp hiện nay.
Khảo sát 273 doanh nghiệp, với các phương pháp kiểm định gồm Cronbach's Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có 4 nhân tố tác động đến khả năng áp dụng IFRS của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán VN, gồm thái độ nhà quản trị, chi phí, hội nhập kinh tế, trình độ của kế toán viên, trong đó nhân tố chi phí tác động theo chiều tiêu cực và có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất.