CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Phát triển du lịch bền vững tại Hội An – điểm đến di sản văn hóa thế giới: Thái độ của người dân địa phương / Hoàng Thị Diệu Thúy // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 73-82 .- 910
Phát triển bền vững là xu hướng tất yếu và cũng là yêu cầu UNESCO đặt ra cho các di sản thế giới. Thông qua trường hợp của Hội An, nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của người dân địa phương đối với việc phát triển du lịch bền vững tại một điểm đến Di sản văn hóa thế giới. Sử dụng phương trình cấu trúc tuyến tính phân tích 300 mẫu khảo sát, kết quả thu được cho thấy rằng người dân càng nhận thức rõ ràng về lợi ích của du lịch bền vững và càng gắn bó với nơi ở thì họ càng ủng hộ việc phát triển du lịch văn hóa theo hướng bền vững. Nghiên cứu cũng đề xuất một số hàm ý quản lý để tăng cường sự ủng hộ của người dân như nâng cao nhận thức về giá trị di sản, và tập huấn kiến thức về du lịch văn hóa bền vững.
2 Vai trò trung gian của sự cam kết trong mối quan hệ giữa sự công bằng trong tổ chức và kết quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Minh Hải // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 83-91 .- 658
Hiệu quả làm việc của nhân viên là một trong những vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và các nhà quản trị từ trước đến nay. Những yếu tố quyết định kết quả làm việc của nhân viên có thể phân thành nhiều nhóm bao gồm yếu tố thuộc về tổ chức, yếu tố thuộc về nhân viên, yếu tố thuộc về đặc điểm công việc... Trên cơ sở lý thuyết về sự công bằng và sự cam kết của nhân viên, nghiên cứu được thực hiện với mục đích kiểm định sự tác động trực tiếp và gián tiếp của sự công bằng đối với kết quả làm việc của nhân viên thông qua biến sự cam kết với tổ chức. Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh với kích cỡ mẫu là 327 nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự công bằng trong tổ chức có sự tác động trực tiếp đến kết quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, sự cam kết không đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa sự công bằng và kết quả làm việc của nhân viên.
3 Vai trò các bên liên quan trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững: Nghiên cứu trường hợp tại Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La / Lã Thị Bích Quang // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 92-100 .- 910
Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới, có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Phát triển du lịch bền vững là định hướng mà ngành du lịch thế giới hướng tới trong những thập kỉ gần đây. Để phát triển du lịch bền vững cần phải xây dựng chiến lược và quy hoạch trên tiêu chí đảm bảo được lợi ích của các bên liên quan. Ở Việt Nam, vấn đề này chưa thực sự được chú trọng, do vậy, tác giả đã tiến hành nghiên cứu về vai trò của các bên liên quan trong quá trình quy hoạch phát triển du lịch bền vững. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập tại xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Bài viết áp dụng lý thuyết các bên liên quan, đánh giá mức độ tham gia của các bên liên quan và từ đó chỉ ra vai trò của các bên liên quan trong quy hoạch phát triển du lịch bền vững tại Tà Xùa, đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của chính quyền và cộng đồng địa phương trong việc quyết định sự phát triển du lịch tại một địa phương.
4 Tác động của giao dịch ngoại bảng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại tại Việt Nam / Phạm Thị Hoàng Anh, Thân Thị Hạ, Lại Thu Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 2-11 .- 332.12
Bài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của hoạt động ngoại bảng tới lợi nhuận cũng như vai trò của hoạt động ngoại bảng trong xu hướng dịch chuyển từ thu nhập từ lãi sang thu nhập phi lãi của các ngân hàng thương mại Việt Nam, giai đoạn 2013-2019. Nghiên cứu tìm ra bằng chứng thực nghiệm từ mô hình hồi quy dữ liệu bảng cho thấy giao dịch ngoại bảng tăng sẽ góp phần cải thiện nguồn thu ngoài lãi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, nhưng không làm tăng tổng lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam. Nói cách khác, giao dịch ngoại bảng có vai trò tích cực trong thay đổi cơ cấu thu nhập từ thu nhập từ lãi sang thu nhập phi lãi tại ngân hàng thương mại. Nói cách khác kết luận này cho thấy giao dịch ngoại bảng kì vọng giúp cơ cấu thu nhập của ngân hàng thương mại Việt Nam hợp lý hơn, ổn định hơn. Nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tổng tài sản có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại.
5 Các yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp : trường hợp ngành chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ / Trần Khánh Hưng, Vũ Hùng Cường // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 12-21 .- 658
Bài viết phân tích vấn đề phát triển của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ. Sử dụng mô hình MIXED Effect, nghiên cứu phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp. Kết quả mô hình cho thấy, theo tiêu chí phát triển về lượng, yếu tố vốn vẫn là yếu tố quyết định và yếu tố lao động ít ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng doanh nghiệp. Theo tiêu chí phát triển về chất, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn hoạt động tốt hơn. Đồng thời, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả hơn. Ngoài ra, một số đặc trưng của doanh nghiệp như địa điểm đặt nhà xưởng hay tình trạng tham gia xuất khẩu cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp về mặt chất, nhưng mức độ ảnh hưởng này khác nhau giữa các ngành. Với đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, kết quả gợi ý ưu tiên chính sách giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, cần có chính sách phát triển các khu công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, và tham gia xuất khẩu.
6 Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng thủy sản / Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Trung, Nguyễn Hữu Sáng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 22-30 .- 658
Xác định mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, rủi ro và mức độ liên kết giữa các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng thủy sản ở tỉnh Bến Tre. 300 phiếu hỏi được gửi trực tiếp đến đối tượng điều tra và thu thập trong 2 tháng. 153 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích. Dữ liệu được phân tích theo qui trình chuẩn gồm các bước từ phân tích nhân tố đến kiểm định độ tin cậy và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định các giả thiết. Kết quả chỉ ra rằng rủi ro từ nguồn cung và thị trường ảnh hưởng đến mức độ liên kết với nhà cung cấp và khách hàng, từ đó tác động đến kết quả kinh doanh. Ngoài ra, văn hóa tổ chức là yếu tố tác động điều tiết đến mối quan hệ giữa rủi ro và mức độ liên kết trong chuỗi cung ứng.
7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học công lập / Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Năng Phúc // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 31-40 .- 658
Nghiên cứu này được thiết kế để đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học công lập ở Việt Nam trên cơ sở phân tích bộ dữ liệu được thu thập từ việc phỏng vấn 172 nhà quản trị ở những đơn vị này. Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng kết hợp với thang đo Likert 5 cấp độ để nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượngthông tin chi phí đào tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng ý nghĩa đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo là đặc điểm và quy mô đào tạo, xác định chi phí đào tạo, điều kiện và môi trường làm việc của bộ phận kế toán, trình độ và kỹ năng của nhà quản trị, sự cam kết hỗ trợ của nhà quản trị, hệ thống văn bản quy định thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và chế độ kế toán.Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số gợi ý giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong các trường đại học công lập ở Việt Nam.
8 So sánh mô hình ARIMA và VECM trong dự báo cầu lao động ở các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến Tỉnh Bình Dương / Phạm Ngọc Thành, Đỗ Thị Hoa Liên, Hoàng Võ Hằng Phương // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 41-53 .- 658
Bài viết ứng dụng các mô hình trong phương pháp chuỗi thời gian vào dự báo cầu lao động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến ở Bình Dương. Trong đó, hai mô hình phổ biến được sử dụng nhiều trong dự báo cầu lao động trong ngắn hạn là ARIMA và VECM được phân tích và so sánh. Mô hình được xây dựng trên dữ liệu từ năm 1996 đến 2014, sau đó dự báo được thực hiện cho các năm 2015 đến 2017 để kiểm tra mức độ chính xác của các mô hình. Kết quả cho thấy cả hai mô hình đều có năng lực dự báo tốt, tuy nhiên, mô hình ARIMA trong trường hợp này có khả năng dự báo chính xác hơn so với mô hình VECM. Bên cạnh đó, nhóm tác giả tìm thấy vai trò quan trọng của vốn sản xuất đối với sự thay đổi cầu lao động ngành công nghiệp chế biến Bình Dương cả trong ngắn hạn và dài hạn.
9 Tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Phạm Hoàng Anh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 54-64 .- 332.1
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam. Với dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017, tạo thành mẫu 5.499 công ty – năm quan sát, thông qua phương pháp hồi quy GMM hệ thống hai bước với kỹ thuật “robust” và “small”, nhóm tác giả đã cho thấy các công ty niêm yết Việt Nam luôn có xu hướng điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu với tốc độ là 38,95%. Thêm vào đó, giữa các nhóm công ty khác nhau1 thì tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau, với các công ty tạo ra dòng tiền tự do càng nhiều thì tốc độ điều chỉnh càng nhanh.
10 Vai trò trung gian của việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và ảnh hưởng điều tiết của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ / Nguyễn Thị Thu, Lê Mộng Huyền // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 65-75 .- 657
Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định vai trò trung gian của việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng trong mối quan hệ giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và kết quả hoạt động kinh doanh phương diện khách hàng. Đồng thời, nghiên cứu cũng kiểm định vai trò điều tiết của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ cho hai mối quan hệ: (1) giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và (2) giữa việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và kết quả hoạt động kinh doanh phương diện khách hàng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua một bảng khảo sát tự đánh giá được gửi đến các nhà quản trị cấp cao và cấp trung đang làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Kết quả phân tích dữ liệu thu được từ 187 phản hồi cho thấy hầu hết các giả thuyết được ủng hộ, ngoại trừ sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ không đóng vai trò điều tiết cho mối quan hệ giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng.