Nghiên cứu đã được thực hiện tại 77 DN sản xuất trên địa bàn các thành phố Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình với 177 bảng hỏi sử dụng được từ 265 phiếu được gửi tới các nhà quản trị (NQT) cấp cao và những người phụ trách công tác kế toán nhằm tìm hiểu tác động của các đặc tính chất lượng thông tin kế toán (CLTTKT) đến quá trình ra quyết định của DN. Kết quả phân tích cho thấy cả 4 đặc tính CLTTKT trong mô hình nghiên cứu đề xuất đều có tác động cùng chiều với quá trình ra quyết định của DN với mức độ tác động lớn nhất là tính hiệu quả, tiếp đó là các đặc tính hữu hiệu, kịp thời, bảo mật và toàn vẹn. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị cần thiết nhằm nâng cao CLTTKT, đáp ứng tốt hơn cho quá trình ra quyết định của các DN Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
Nghiên cứu việc thực hiện quản trị quan hệ khách hàng điện tử (e-CRM) của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), bài viết tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị quan hệ khách hàng điện tử. Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện dựa trên khảo sát 300 người tham gia triển khai e-CRM tại Vietnam Airlines. Số liệu thu thập được phân tích qua công cụ CFA và SEM của phần mềm AMOS SPSS 20.0. Kết quả nghiên cứu đúc kết bốn nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến triển khai e-CRM, bao gồm Định hướng khách hàng, Quản trị tri thức, Tổ chức và Công nghệ thông tin. Và nghiên cứu cũng cho thấy kết quả triển khai e-CRM tác động nhiều nhất đến hoạt động tài chính và marketing của Vietnam Airlines.
Nghiên cứu này nhằm nhận diện và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thương hiệu nhà tuyển dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Số liệu được thu thập được từ 321 người lao động được tuyển dụng trong 5 năm trở lại đây (đến từ 95 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các ngành dịch vụ và thương mại bán lẻ). Độ tin cậy của thang đo được kiểm chứng bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố EFA và phân tích hồi quy được sử dụng để tìm và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thương hiệu nhà tuyển dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích sự ảnh hưởng của việc làm không phù hợp đến thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp ở Vùng Đồng bằng sông Cửu Long dựa trên số liệu khảo sát 1.300 người lao động. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự ảnh hưởng tiêu cực của việc làm không phù hợp đến thu nhập của người lao động. Cụ thể là, người lao động có bằng cấp dưới chuẩn so với yêu cầu công việc được tìm thấy có thu nhập thấp hơn những người có bằng cấp đúng chuẩn. Ngoài ra, có bằng chứng thống kê cho thấy người lao động có kỹ năng vượt chuẩn có thu nhập thấp hơn so với người đáp ứng đúng kỹ năng công việc đòi hỏi. Bên cạnh đó, bằng chứng thống kê còn cho thấy người lao động làm những công việc ít có liên quan đến chuyên ngành được đào tạo có thu nhập thấp hơn người làm đúng với chuyên ngành đã học.
Phân tích tác động của tỷ giá, giá dầu thô và giá vàng thế giới đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn tháng 10/2007 đến tháng 10/2019. Sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) kết hợp với phương pháp kiểm định đường bao (Bound test) làm cơ sở xác định tác động dài hạn, sau đó dùng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để phân tích tác động ngắn hạn, kết quả thực nghiệm đã chứng minh được mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa các chỉ số giá được lựa chọn với chỉ số VN-Index. Cụ thể, trong dài hạn, tỷ giá hối đoái và giá vàng tác động ngược chiều trong khi giá dầu tác động cùng chiều đến chỉ số VN-Index. Sự biến động trong ngắn hạn sẽ được điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng dài hạn với mức độ 6.4%. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một vài giải pháp để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam một cách bền vững.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng một vai trò không nhỏ trong phát triển kinh tế Việt Nam. Với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới thu hút FDI vào Việt Nam kể từ khi mở cửa nền kinh tế cho đến nay, nghiên cứu sử dụng mô hình ARDL để xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố này trong cả ngắn hạn và dài hạn. Kết quả ước lượng cho thấy trong dài hạn, GDP, độ mở thương mại của nền kinh tế, lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp có tác động tích cực tới nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong ngắn hạn, nguồn vốn này chịu tác động tích cực của chính nó ngay thời kỳ trước. Lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp là những yếu tố có tác động tiêu cực, trong khi GDP và độ mở thương mại của nền kinh tế không có ảnh hưởng đến đến thu hút FDI. Kết quả thực nghiệm này có thể gợi ý một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý trong việc điều hành chính sách vĩ mô nhằm thu hút thêm vốn FDI trong thời gian tới.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam có nhiều chính sách hỗ trợ đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng đã tác động tích cực đối với sinh kế của các hộ nông dân cũng như gia tăng thu nhập, xóa đói và giảm nghèo. Trên cơ sở sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập được từ 810 hộ nông dân, 30 cán bộ quản lý và 30 chuyên gia thuộc lĩnh vực nghiên cứu tại ba tỉnh đại diện cho 3 vùng trong cả nước là Hà Giang, Hà Tĩnh và Trà Vinh, nhóm nghiên cứu đã phân tích thực trạng tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn, từ đó kiến nghị một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách này trong thời gian tới.
Nghiên cứu nhằm xác định những tác động của các nhân tố đến mức chi tiêu của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu “Cuộc điều tra dân số Việt Nam” (VHLSS) năm 2016 và số liệu từ Niên giám thống kê 2016, 2017, 2018. Mô hình hồi quy bội với phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS và mô hình hồi quy phân vị được áp dụng để xây dựng mô hình kinh tế lượng, ước lượng mức tác động của các biến độc lập và so sánh mức tác động giữa các mô hình với nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến ở mô hình hồi quy phân vị có hệ số gần tương đồng với nhau và gần với OLS như biến thu nhập, tuổi, tổng số thành viên của hộ và khu vực trong khi mức ý nghĩa ở một số biến còn lại có sự khác nhau. Nghiên cứu chỉ ra rằng hộ gia đình cần tăng thu nhập kích thích chi tiêu hàng hóa dịch vụ nhằm tăng tổng cầu kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra chính quyền địa phương cần hỗ trợ vay vốn giúp hộ gia đình tăng khả năng sản xuất, đẩy mạnh tham gia các hoạt động nông nghiệp đẩy mạnh gia tăng chi tiêu.
Tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp là một loại tài sản thuộc nhóm tài sản vô hình và trong hầu hết các trường hợp, chúng có giá trị lớn hơn nhiều lần so với tổng tài sản hữu hình. Việc quản lý và khai thác các tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp Việt Nam còn không ít hạn chế, do đó chưa tạo được động lực để phát triển và gia tăng sự khác biệt cho doanh nghiệp - yếu tố căn bản của cạnh tranh hiện đại. Bài viết tập trung mô tả các dạng tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp, từ đó dựa trên những khảo sát thực tế cho thấy khối tài sản này đã được khai thác thế nào trong các doanh nghiệp. Một số gợi ý về quản trị tài sản trí tuệ hy vọng sẽ giúp ích phần nào cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tạo dựng và duy trì những lợi thế cạnh tranh (dựa trên sự khác biệt) trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tại cửa hàng, dịch vụ đa kênh đang được chuyển sang đa kênh tích hợp. Việc tích hợp hiệu quả các kênh bán hàng giúp nhà bán lẻ không chỉ tăng trưởng doanh số, tối ưu hóa chi phí phục vụ khách hàng mà còn khiến họ hài lòng, trung thành, gắn kết hơn với nhà bán lẻ. Nghiên cứu này kiểm chứng khung lý thuyết về ảnh hưởng của chất lượng tích hợp kênh bán lẻ cảm nhận đến sự gắn kết của người tiêu dùng trong bối cảnh ngành bán lẻ hàng điện tử tiêu dùng tại Việt Nam. Kết quả phân tích dữ liệu bằng mô hình PLS-SEM cho thấy tác động tích cực của các thuộc tính chất lượng tích hợp kênh, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng lên sự gắn kết khách hàng thông qua thuộc tính trao quyền cho người tiêu dùng. Kết quả thực nghiệm còn ngụ ý vai trò quan trọng của chất lượng tích hợp kênh cảm nhận trong việc gia tăng sự gắn kết khách hàng nhằm thúc đẩy ý định mua lại và truyền miệng tích cực của họ.