Tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp (DN) có vai trò hết sức quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của DN. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế, tài chính trong DN, công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác quản lỷ ở một DN, trong đó có Công ty hợp danh. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả tập trung làm rõ đặc điểm của Công ty hợp danh để từ đó làm rõ nội dung tổ chức công tác kế toán tại các công ty này.
Liên minh châu Âu (EU) hiện là một trong các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Các mặtt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này gồm hàng dệt may, da giày. Cơ hội đang tiếp tục mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp (DN) xuất khẩu da giày nói riêng khi mới đây, Việt Nam và EU đã ký Hiệp định tự do thương mại (EVFTA). Hiệp định mới này được kỳ vọng sẽ củng cố cho sự phát triển của ngành xuất khẩu da giày Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, hoạt động xuất khẩu da giày cùa Việt Nam sang thị trường này cũng sẽ có nhiều thách thức, đòi hỏi cần có nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của DN da giầy Việt Nam trong thời gian tới.
Dịch Covid-19 trên thế giới đang có những diễn biến ngày càng phức tạp. khó lường, tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng tiêu cực đó: làm đình trệ các hoạt động sản xuất kinh doanh, gây mất việc làm, thất nghiệp tăng, bạo lực gia đình nhiều hơn,... Tình hình đó đòi hỏi cả nước vừa phải tập trung ưu tiên chống dịch, vừa phải có các biện pháp trước mắt và lâu dài để giảm tiểu tác động của dịch bệnh, sớm phục hồi và đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế.
Ở Việt Nam, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNW) hiện nay giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế, chiếm 97% tổng số DN cả nước. Các DN này hiện đang sử dụng 50% lực lượng lao động của nền kinh tế và đóng góp khoảng 45% GDP hàng năm. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, cùng với xu hướng tầng của các DN mới thành lập thì số lượng DN bị ngừng hoạt động, phá sản đang ngày càng tăng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại cùa nhiều DNNW là quản lý sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả. Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn nghiên cứu này sử dụng một số phưong pháp thống kê như: phân tố, dãy số biến động theo thời gian, chỉ số... Từ đó, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng và đưa ra một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả vốn của các DNNW.
Nghiên cứu này nhằm mục đích đề xuất các hàm ý chính sách nâng cao sự tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) của người dân trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang nhằm ổn định an sinh xã hội trên địa bàn. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp 200 người dân đã và đang tham gia BHXTTN, bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến; nhóm tác giả đã tìm ra được 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHXHTN của người dân là: Gia đình, cảm nhận hành vi xã hội, quan tâm sức khỏe, và kiểm soát hành vi. Từ kết quá nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã đề xuất các hàm ý chính sách góp phần nâng cao sự tham gia BHXHTN của người dân tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thời gian tới.
Mặc dù trong giai đoạn nhiều khó khăn, song trường Đại học Kinh tế Nghệ An vẫn là một địa chỉ đào tạo đáng tin cậy cho nguời học: Thương hiệu mang tên "trương Đại học Kinh tế Nghệ An" vẫn tiếp tục được khẳng định. Trường Đại học kinh tế Nghệ An đâ trở thành nơi tạo dựng tương lai đáng tin cậy cho rất nhiều thế hệ trẻ. Để xây dựng và phát triền thương hiệu ngày càng vững mạnh. Trường Đại học Kinh tế Nghệ An luôn luôn coi trọng và đề cao việc nâng cao chất lượng đào tạo. đào tạo thực tế cho sinh viên.
Bài báo tập trung vào đánh giá thực trạng tình hình đầu tư tư nhân trong lĩnh vực hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam theo hình thức PPP tại Việt Nam. Để đánh giá, bài báo đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư của khu vực tư nhân theo hình thức PPP trong lĩnh vực hạ tầng giao thông đường bộ được hình thành từ 9 thang đo bao gồm: “(1) Lợi nhuận đầu tư, (2) Khung pháp lý, (3) Chia số rủi ro, (4) Kinh tế vĩ mô, (5) Lựa chọn đối tác”, (6) Hỗ trợ của Chính phủ, (7) Kênh tài trợ vốn, (8) Năng lực tư nhân và (9) Trách nhiêm xã hội của doanh nghiệp. Trong bài nghiên cứu này, từ kết quả nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm, tác giả đưa thêm 4 thang đo mới vào xem xét bao gồm (6) Hỗ trợ của Chính phủ, (7) Kênh tài trợ vốn, (8) Năng lực tư nhân và (9) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Các yếu tố chất lượng dịch vụ hành chính công tại cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) hết sức quan trọng, CQHCNN bên cạnh chức năng quàn lý còn có chức năng phục vụ những dịch vụ cần thiết cho người dân để họ thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của công dân. Vì vậy để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thì cần phải nghiên cứu yếu tố nào tác động bên trong hay bên ngoài, mức độ tác động đến đâu để giúp các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương nâng cao được chất lượng phục vụ của mình đáp ứng nhu cầu thực tiễn đang đặt ra.
Quản lý rủi ro tuân thủ thuế là một phương thức quản lý hiện đại và khoa học nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế nói chung và các doanh nghiệp lớn nói riêng.Trong 10 năm qua, vấn đề tuân thủ thuế của các doanh nghiệp lớn đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý thuế trên thé giới. Do mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, bản chất hoạt động kinh doanh phúc tạp và dàn chải trên nhiều vùng, lãnh thổ và các quốc gia nên các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các đoàn đa quốc gia có rủi ro tuân thủ thuế cao. Đây chính là thách thức không nhỏ cho các cơ qua quản lý thuế. Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề trong công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế đối với các doanh nghiệp lớn hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro tuân thủ thuế tại Việt Nam.
Thời gian qua, đại dịch Covid-19 đã gây ra một cuộc khủng hoảng chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Cuộc khủng hoảng này đã tác động toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội toàn cầu. Để ngăn chặn cuộc khủng hoảng y tế công cộng, Chính phủ các nước đã buộc phải can thiệp, ban hành nhiều chính sách bắt buộc như thực hiện giãn cách xã hội, phong toả, đóng cửa biên giới, ngừng các chuyến bay, hoặc đóng cửa trường học ... Các chính sách này đã tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, thương mại của các quốc gia. Nghiên cứu phản ứng chính sách của một số quốc gia nhằm ứng phó với dịch Covid 19, bài viết hàm ý vấn đề đặt ra với Việt Nam.