Phân tích những đóng góp của khu công nghiệp (KCN) đến việc gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội của nhân lực ngành công nghiệp thành phố Hải Phòng. Đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết để tăng cường vai trò KCN đối với sự phát triển nhân lực ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố những năm tới. Trong đó, nhấn mạnh các vấn đề cần tập trung giải quyết là tăng cường thu hút lao động, đảm bảo tính ổn định về công ăn việc làm cho người lao động, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, khắc phục tình trạng mất cân đối về trình độ chuyên môn của lao động và bồi dưỡng tác phong công nghiệp của lao động trong khu công nghiệp.
Bài nghiên cứu là một trong những nghiên cứu của chúng tôi về chiến lược kinh doanh xanh với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của các bên liên quan đến việc theo đuổi loại hình chiến lược này cũng như những lợi thế cạnh tranh đạt được đối với các DN xuất khẩu Việt Nam từ góc độ tiếp cận các bên liên quan. Bằng việc điều tra 275 nhà quản lý thuộc 75 DN xuất khẩu nông sản, thủy sản và dệt may, bài nghiên cứu khẳng định rằng thái độ, nhận thức, quan điểm của các nhà quản lý cấp cao; sự quan tâm của khách hàng trên thị trường nước ngoài; sức ép của các cơ quan quản lý và chính phủ các quốc gia xuất khẩu; sức ép của các bên liên quan xã hội về vấn đề môi trường có tác động tích cực đến việc theo đuổi chiến lược xuất khẩu xanh của các DN xuất khẩu Việt Nam. Ngoài ra, việc theo đuổi chiến lược này giúp các DN điều tra đạt được lợi thế cạnh tranh khác biệt hóa chứ không phải lợi thế chi phí thấp. Kết quả nghiên cứu là gợi ý để tác giả đưa ra hàm ý, kiến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách công và các DN xuất khẩu Việt Nam để thúc đẩy hơn nữa việc áp dụng chiến lược xuất khẩu xanh.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nguồn vốn quan trọng, tác động vào các chỉ số kinh tế, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nghiên cứu này cung cấp các kết quả định lượng cho hai mục tiêu nghiên cứu sau đây. Thứ nhất, nghiên cứu đánh giá và phân tích kết quả phát triển kinh tế nhờ hoạt động thu hút FDI trên cơ sở các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm, giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị xuất khẩu. Thứ hai, nghiên cứu phân tích và xác định mối tương quan giữa FDI và các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu. Kết quả nghiên cứu sẽ khẳng định rằng vốn FDI có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là tác động lớn tới giá trị của các chỉ tiêu phát triển kinh tế. Nghiên cứu này còn kiến nghị một số giải pháp thu hút FDI cho địa phương khác dựa trên nghiên cứu trường hợp điển hình thu hút FDI Thái Nguyên giai đoạn 2010-2019.
Bài viết tìm hiểu về tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1999-2018 bằng phương pháp phân tích hồi quy mô hình tuyến tính (OLS). Kết quả phân tích nghiên cứu cho thấy rằng các biến nợ công (EXP_GR, DEBT) có tác động tiêu động tiêu cực và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế (GR). Trong khi đó, INV, OPEN có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP hàng năm (GR). Nghiên cứu cũng cho thấy rằng thấy các năm gần đây Việt Nam tương đối kiểm soát được nợ công trong ngưỡng an toàn, cụ thể là dưới 65% (theo Luật quản lý nợ công tại Việt Nam). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra nếu việc chi tiêu dùng của Chính phủ tăng trong khả năng ngân sách có thể đáp ứng mà không làm tăng mức nợ công thì việc chi tiêu dùng này sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, các yếu tố khác như đầu tư công, xuất nhập khẩu có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Cuối cùng, dựa trên các kết quả thu được, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị về chính sách quản lý nợ công cho Việt Nam.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của nhóm khách hàng hưu trí dựa vào cuộc khảo sát 295 đáp viên trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Công cụ phân tích thống kê mô tả và kỹ thuật ước lượng hồi quy Probit và Tobit được sử dụng trong phân tích dữ liệu, kết quả phân tích cho thấy các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, số thành viên trong gia đình, thu nhập bình quân, tiền tiết kiệm bình quân, và yếu tố ảnh hưởng từ người thân. Bên cạnh đó các yếu tố như: trình độ học vấn, tiền tiết kiệm và ảnh hưởng của người thân là những yếu tố ảnh hưởng đến mức phí chi trả cho bảo hiểm nhân thọ của người hưu trí.
Nghiên cứu này xác định tác động của phẩm chất cá nhân lãnh đạo đến kết quả hoạt động doanh nghiệp tại Chi nhánh MBBank Quảng Ngãi. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chính được thu thập bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc. Các câu hỏi thu thập được kiểm tra tính đầy đủ và được mã hóa bằng phần mềm SPSS 22 để phân tích. Các kết quả nghiên cứu đã tiết lộ rằng phẩm chất tạo ảnh hưởng thần tượng hóa, kích thích trí lực nhân viên và thấu hiểu cá nhân có tác động tích cực đến kết quả hoạt động doanh nghiệp. Nghiên cứu khuyến nghị các nhà lãnh đạo nên điều chỉnh phong cách lãnh đạo và ứng dụng tính mới có lợi cho kết quả hoạt động doanh nghiệp. Trên tất cả, bản chất của lãnh đạo là dựa trên các giá trị của người lãnh đạo.
Đặc điểm năm tính cách ảnh hưởng đến việc ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân và được quan tâm bởi nhiều nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, ít tác giả đề cập đến đặc điểm năm tính cách ảnh hưởng đến ý định đầu tư chứng khoán. Do đó, nghiên cứu tìm hiểu nhằm khám phá các đặc trưng tính cách cá nhân ảnh hưởng tới ý định đầu tư chứng khoán thông qua nhận thức về rủi ro, nhận thức về sự không chắc chắn, và đánh giá về kết quả đầu tư. Nghiên cứu thực hiện dựa trên kết quả trả lời hợp lệ của 465 nhà đầu tư cá nhân cho thấy: (i) Tính hướng ngoại ảnh hưởng cùng chiều đến nhận thức rủi ro và nhận thức sự không chắc chắn, tính dễ chịu ảnh hưởng cùng chiều và tính nhạy cảm ảnh hưởng trái chiều đến nhận thức về sự không chắc chắn. (ii) Nhận thức rủi ro và sự không chắc chắn ảnh hưởng cùng chiều đến kết quả đầu tư. (iii) Kết quả đầu tư ảnh hưởng cùng chiều đến ý định đầu tư. (iv) Vai trò trung gian của nhận thức rủi ro, sự không chắc chắn, kết quả đầu tư trong mối quan hệ giữa đặc điểm năm tính cách với ý định đầu tư.
Nghiên cứu này nhằm tìm ra các nhân tố tác động đến cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp xi măng niêm yết ở Việt Nam. Nghiên cứu thực hiện trên mẫu gồm 77 quan sát với số liệu thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp sản xuất xi măng ở Việt Nam có cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019. Thông qua việc áp dụng các phương pháp ước lượng dữ liệu bảng tĩnh, kết hợp với việc xây dựng, lựa chọn, kiểm định các mô hình, nghiên cứu đã lựa chọn được mô hình tác động cố định nhằm đánh giá chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đến hệ số nợ của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu. Những nhân tố được xác định có tác động đến cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp xi măng niêm yết gồm: Quy mô doanh nghiệp, cơ cấu tài sản, khả năng tăng trưởng, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời. Trong đó, nhân tố quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều và mạnh nhất tới cơ cấu nguồn vốn. Kết quả nghiên cứu cơ bản phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, với đặc thù hoạt động của các doanh nghiệp xi măng Việt Nam cũng như nhất quán với lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn dạng tĩnh. Nghiên cứu có thể hữu ích đối với các chuyên gia tư vấn tài chính, nhà đầu tư và các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp.
Đánh giá lợi thế so sánh của nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU, đồng thời phân tích tính ổn định và tính xu thế của lợi thế so sánh trong giai đoạn 2003-2018. Kết quả cho thấy: (i) Việt Nam có lợi thế so sánh và chuyên môn hóa xuất khẩu trong nhóm nông sản theo mã HS trong hệ thống hài hòa thuế quan gồm: Cà phê, chè và gia vị (HS09); Trái cây và các loại hạt ăn được (HS08); Cá và các chế phẩm từ thịt, cá (HS03, HS16); (ii) Nhóm nông sản có lợi thế so sánh nhưng chưa chuyên môn hóa xuất khẩu gồm: Sản phẩm của ngành xay xát; mạch nha; tinh bột (HS11); Các chế phẩm từ ngũ cốc, bột, tinh bột (HS19); Các chế phẩm ăn được khác (HS21); (iii) Nhóm nông sản chuyên môn hóa xuất khẩu nhưng không có lợi thế so sánh chủ yếu thuộc nhóm rau và chế phẩm từ rau, quả, hạt, ngũ cốc; (iv) Nhóm nông sản không có lợi thế so sánh hoặc chuyên môn hóa xuất khẩu chủ yếu thuộc nhóm thực phẩm chế biến. Hơn nữa, nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang EU có lợi thế so sánh hội tụ theo thời gian và các nhóm nông sản có lợi thế so sánh yếu ban đầu sẽ tăng lên theo thời gian, trong khi các nông sản có lợi thế so sánh mạnh ban đầu sẽ giảm theo thời gian. Từ các kết quả phân tích định lượng, nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị mang hàm ý chính sách nhằm phát huy lợi thế so sánh, đồng thời xây dựng chiến lược xuất khẩu theo từng nhóm nông sản Việt Nam.
Bài viết nghiên cứu hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu (gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp) những năm gần đây theo các nội dung: quy mô, loại hình giao dịch, lãi suất, cơ cấu nhà đầu tư... Trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính như thống kê mô tả, so sánh, phân tích, bài viết đã chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động của thị trường trái phiếu Việt Nam. Nhìn chung, mức độ hoàn thiện của thị trường còn yếu khi thiếu vắng các tổ chức định mức tín nhiệm, vai trò tạo lập thị trường của các tổ chức tài chính trung gian cũng còn hạn chế, bên cạnh đó khuôn khổ pháp lý hiện hành còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển TTTP. Trên cơ sở đó, tác giả bài viết đề xuất một vài định hướng và giải pháp nhằm phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững thị trường trái phiếu Việt Nam thời gian tới.