CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam / Bùi Kim Tú // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.4 - 6 .- 332
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS hiện đang được áp dụng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam dự kiến sẽ áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này vào năm 2025. Để áp dụng được chỉ tiêu chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế này đòi hỏi Việt Nam phải có sự chuẩn bị đầy đủ nhiều nội dung và có sự đầu tư kinh phí nhất định. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích thực trạng tiến trình áp dụng tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế IFRS tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng tiêu chuẩn này.
2 Cơ hội phát triển mô hình không gian làm việc chung tại Việt Nam trong điều kiện hiện nay / Lê Xuân Đại, Hồ Mai Ly // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.7 - 9 .- 658
Mô hình không gian làm việc chung (Coworking place) xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2012 đã và đang mang lại nhiều tác động tích cực, đặc biệt đối với doanh nghiệp khởi nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mô hình này giúp các doanh nghiệp không cần thiết phải lựa chọn giải pháp thuê văn phòng cố định thường phải trả tiền thuê theo quý hoặc năm và giá thuê cao, trước đây thường kiến các doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh.
3 Cơ hội và thách thức của ngành kế toán Việt Nam trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 / Nguyễn Diên Duẩn // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.10 -12 .- 657
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 dự kiến đem lại sự thay đổi cho tất cả các ngành, các lĩnh vực, trong đó có ngành kế toán, kiểm toán Việt Nam. Với áp dụng công nghệ hiện đại, ngành kế toán dự kiến sẽ có nhiều cơ hội để thay đổi và phát triển, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và dễ dàng hội nhập vào khu vực và thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì cách mạng 4.0 dự kiến sẽ đem lại nhiều thách thức không nhỏ đối với ngành kế toán nước ta.
4 Phát triển nguồn nhân lực nâng cao sức cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam / Nguyễn Đình Thiện // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.13 - 15 .- 658
Trong những năm qua, phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) luôn chú trọng. Tuy nhiên, hiện nay, những tiến bộ về kỹ thuật công nghệ đang làm thay đổi cấu trúc, phương thức hoạt động và cung cấp nhiều dịch vụ hiện đại của hệ thống ngân hàng, hình thành những sản phẩm dịch vụ tài chính mới như M-POS, Intenet banking, Mobile banking ... điều này đặt ra cho các ngân hàng nói chung và Agribank nói riêng những thách thức trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Agribank và đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực và nâng cao sức cạnh của Ngân hàng.
5 Sự hài lòng bệnh nhân người cao tuổi với dịch vụ y tế ở Việt Nam / Nguyễn Hương Giang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.19 - 21 .- 610
Ở Việt Nam, dân số già (được gọi là người trên 60 tuổi trở lên) tăng mạnh do mức sinh và mức chết giảm, tuổi thọ được cải thiện. UNFPA (2011) cho biết tổng dân số Việt Nam tăng 1,6 lần; dân số trẻ giảm 50% nhưng dân số già tăng 2,12 lần từ năm 1979 đến năm 2009. Việt Nam bước vào giai đoạn già hoá (khi dân số già làm chiếm 10% tổng dân số) từ năm 2017. Do đó, Việt Nam phải đối mặt với câu hỏi làm thế nào để chăm sóc cho những người dân đã già đi cũng như tầm quan trọng của việc phát triển an ninh y tế đối với Việt Nam nói chung.
6 Giải pháp góp phần hoàn thiện tổ chức kiểm tra trong công tác kế toán tại các doanh nghiệp hiện nay / Nguyễn Thuỳ Dương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.25 - 26. .- 657
Kế toán với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống các công cụ quản lý kinh tế luôn đòi hỏi phải có sự đổi mới và hoàn thiện liên tục cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế đất nước và chính bản thân doanh nghiệp trong quá trình đổi mới. Để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán tài chính khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và đáp ứng yêu cầu của cơ chế tự quản lý, tự kê khai, tự chịu trách nhiệm trong nền kinh tế thị trường. Bài viết tập trung vào vấn đề kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp dựa trên vấn đề đó.
7 Các nguyên lý xây dựng luật thuế thu nhập cá nhân hiệu quả và công bằng và khuyến nghị cho Việt Nam / Nguyễn Anh Phong // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.49 - 51 .- 340
TThuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một trong những sắc thuế quan trọng trong nguồn thu ở các quốc gia phát triển nhưng có cũng là loại thuế gây tranh cãi nhiều bởi vì bản chất nó là thuế trực thu, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và phúc lợi của công dân. Thuế TNCN ở Việt Nam mặc dù ra đời và qua các lần chỉnh sửa nhưng vẫn còn bất cập nhất là làm sao đảm bảo được cả tính hiệu quả và công bằng. Trong bài viết này, tác giả đề cập đến các nguyên lý để xây dựng luật thuế TNCN hướng đến tính hiệu quả, công bằng, phân tích những hạn chế và đưa ra các khuyến nghị để điều chỉnh luật thuế TNCN ở nước ta trong thời gian tới mục tiêu hướng đến là làm sao vừa đảm bảo được cả tính hiệu quả và vừa đảm bảo được cả tính công bằng.
8 Thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch bền vững tỉnh Thanh Hoá / Lê Thị Bình // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.32 - 34 .- 910
Trong những năm qua, ngành du lịch tỉnh Thanh Hoá đã phát triển khá nhanh, chính quyền tỉnh đã có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển du lịch, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý du lịch, tạo lập môi trường, điều kiện thuận lợi cho các chủ thể KDDL. Tuy nhiên, quản lý nhà nước (QLNN) đối với ngành phát triển du lịch bền vững (PTDLBV) tỉnh Thanh Hoá còn hạn chế như thiếu tầm nhìn tổng thế về phát triển du lịch nên sản phẩm du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, kém hấp dẫn và không thể hiện được tính đặc thù. Quản lý và quy hoạch du lịch chưa hiệu quả, vấn đề liên kết phát triển du lịch chưa được chú ý.
9 Thực trạng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) ở Việt Nam và một số đề xuất / Lê Cương Kiên // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.35 - 37 .- 332
Theo Uỷ ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), đến hết năm 2018 đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ được IASB khảo sát tuyên bố cho phép áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc (IFRS) dưới các hình thức khác nhau. Trong khi IFRS đã trở thành luật chơi phổ biến trên toàn cầu, thì Việt Nam là một trong số ít các quốc gia chưa có tuyên bố về áp dụng IFRS. Điều này đòi hỏi trong thời gian tới, Việt nam cần có nhiều hơn nữa các nhà đầu tư quốc tế. Bài viết khái quát về IFRS và những lợi ích của nó với các doanh nghiệp (DN); đồng thời khái quát thực trạng áp dụng IFRS tại Việt Nam; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng hiệu quả IFRS ở các DN Việt Nam trong thời gian tới.
10 Một số vần đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán, nhằm bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, phát triển bền vững thị trường / Nguyễn Văn Tuân // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.44 - 46 .- 340
Vi phạm pháp luật chứng khoán là các hành vi của tổ chức, cá nhân vi phạm qui định của Luật chứng khoán và qui định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK). Mặc dù đã có nhiều chế tài, song trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán khá đa dạng. Bài viết khái quát thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, từ đó góp phần quan trọng trong bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, phát triển bền vững thị trường.