Việc huy động thêm các nguồn lực tài chính trong xã hội để giảm sức ép lên ngân hàng nhà nước, cũng như công tác phân bố và sử dụng các nguồn tài chính cho đào tạo nghề đối với lao động nông thôn một cách có hiệu quả là một vấn đề rất bức thiết. Thời gian qua, tỉnh Phú Thọ cũng đã triển khai đẩy mạnh xã hội hoá, nhằm thu hút đầu tư tư doanh nghiệp vào đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa thấy mặn mà và chỉ một số ít đầu tư vào việc này. Thực tế có những trường hợp những trường nghề và doanh nghiệp dù cách địa lý khá gần nhau nhưng sự kết nối gần như không có. Do vậy, việc phát triển các nguồn lực tài chính.
Nhu cầu thông tin của nhà đầu tư không chỉ dừng lại ở các thông tin doanh nghiệp bắt buộc phải công bố theo qui định mà họ còn quan tâm đến nhiều thông tin khác có liên quan đến doanh nghiệp. Với dữ liệu được thu thập từ 154 quan sát, nghiên cứu này đã tiến hành xem xét các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện (CBTTTN) của các ngân hàng thương mại (NHTM) đang niên yết tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các NHTM Việt Nam CBTTTN ở mức tương đối thấp trong 10 năm nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2019 trung bình 46,47%. Đồng thời, các nhân tố: khả năng sinh lời, thời gian hoạt động, chất lượng của công ty kiểm toán có tác động thuận chiều với mức độ CBTTTN của các NHTM đang niên yết tại Việt Nam.
Nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Công ty cổ phần Dược phẩm Tipharco Tiền Giang. Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xem xét mức độ tác động của các yếu tố rút ra được từ phân tích nhân tố khám phá động lực làm việc của nhân viên. Số liệu được sử dụng để phân tích qua phỏng vấn 300 nhân viên tại Công ty. Kết quả cho thấy có 06 yếu tố có tác động đến động lực làm việc của nhân viên, gồm: Lãnh đạo; Đào tạo và thăng tiến; Công việc thú vị; Đồng nghiệp; Thu nhập và phúc lợi; Khen thưởng và công nhận. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị tập trung 06 yếu tố đã nêu để có thể nâng cao động lực làm việc tại Công ty cổ phần Dược phẩm Tipharco Tiền Giang
Mobile banking hiện đang là xu hướng phát triển của ngành ngân hàng vì những lợi ích to lớn mà dịch vụ này mang lại cho cả ngân hàng và khách hàng. Tuy nhiên lại chưa có quá nhiều khách hàng lựa chọn sử dụng dịch vụ bởi tâm lý lo sợ việc phải tiếp cận công nghệ thông tin mà một trong những rào cản lớn nhất chính là rủi ro bảo mật. Bài báo nghiên cứu thực trạng hạ tầng và bảo mật của dịch vụ Mobile banking tại Việt Nam đồng thời chỉ ra những ưu điểm cũng như những lỗ hổng trong quy trình bảo mật. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp giảm thiểu rủi ro bảo mật đối với dịch vụ mobile banking nhằm nâng cao uy tín và thu hút thêm khách hàng lựa chọn dịch vụ; giúp các ngân hàng phát triển dịch vụ một cách tối ưu nhất.
Để tăng cường tính tự chủ trong hoạt động, các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các trường cao đẳng công lập nói riêng cần phải năng động trong bối cảnh có nhiều biến động trên thị trường lao động để đạt được mục tiêu đặt ra và đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Kế thừa các nghiên cứu trước và sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, với 256 mẫu khảo sát, nghiên cứu này cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tự chủ tài chính (TCTC) của các trường Cao đẳng công lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gồm: Nguồn lực tài chính, Tổ chức bộ máy, Sử dụng tài chính, Cơ sở vật chất.
Bài nghiên cứu sẽ đi vào xem xét vai trò thúc đẩy liên kết của ngành sản xuất công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Việt Nam trong bối cảnh từ cuối năm 2019 đến nay, nền kinh tế thế giới và trong nước đang phải gánh chịu những tác động nặng nề từ đại dịch Covid-19. Để đẩy lùi các thách thức, phát triển CNHT sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự liên kết giữa doanh nghiệp CNHT nội địa và doanh nghiệp lắp ráp, doanh nghiệp FDI,… nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm và cả nền kinh tế,… Dựa trên cách tiếp cận phương pháp bảng cân đối liên ngành (I/O), bài viết xác định các hệ số liên kết giữa ngành CNHT với các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế và với toàn bộ nền kinh tế, từ đó, kết luận của bài viết cho thấy rằng, ngành CNHT có vai trò quan trọng với tư cách là ngành cung ứng đầu vào cho các ngành sản xuất trong nền kinh tế và thúc đẩy liên kết sẽ có ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển các ngành CN CBCT Việt Nam trong bối cảnh đại dịch.
Trong bối cảnh hiện nay, khối lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tăng mạnh theo thời gian, các cơ quan quản lý nhà nước điển hình là ngành hải quan đang thực hiện phương thức quản lý dựa vào mức độ tuân thủ pháp luật của chủ thể là doanh nghiệp để tối ưu hóa nguồn lực, đảm bảo tạo thuận lợi và an ninh thương mại, đồng thời giữ vững kỉ cương và công bằng của môi trường kinh doanh. Với phương thức quản lý tiên tiến này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ý thức được tầm quan trọng của tuân thủ tốt pháp luật, đó vừa là nghĩa vụ cũng đồng thời là lợi ích được tạo thuận lợi thương mại. Bài viết nhằm mục đích phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa tại Việt Nam, đồng thời nhận diện được các khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng hạng doanh nghiệp theo mức độ tuân thủ pháp luật.
Đề tài áp dụng lý thuyết mạng lưới cho việc phân tích bản chất và cấu trúc mạng lưới các điểm đến du lịch của cụm du lịch Cần Thơ - Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau, từ đó đưa ra những hàm ý phát triển du lịch cụm theo hướng liên kết mạng lưới. Kết quả phân tích mạng lưới dựa trên dữ liệu là các chương trình du lịch được khai thác bởi công ty du lịch và lữ hành cho thấy mạng lưới điểm du lịch của cụm Cần Thơ - Sóc Trăng - Bạc Liêu - Cà Mau có sự liên kết rất yếu. Kết quả phân tích đã xác định điểm đến trung tâm chính (hub), điểm trung gian quan trọng, điểm bắt đầu, điểm kết thúc, điểm ngoại vi và điểm với vai trò lỗ hổng cấu trúc của mạng lưới. Kết quả của nghiên cứu là tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho tổ chức quản lý điểm đến tại địa phương trong việc quy hoạch và phát triển du lịch cụm theo hướng liên kết mạng lưới.
Bài nghiên cứu tìm hiểu tác động của các nhân tố bên trong doanh nghiệp đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong bối cảnh một nền kinh kế đang phát triển. Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, 30 doanh nghiệp niêm yết thuộc ngành sản xuất, chế biến thực phẩm đã được điều tra từ năm 2014 đến năm 2019. Số liệu được phân tích dựa trên sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14. Các ước lượng cho dữ liệu bảng được sử dụng bao gồm ước lượng OLS, ước lượng FE, ước lượng RE, phương pháp GMM để kiểm định giả thuyết và tìm ra ước lượng phù hợp. Kết quả cho thấy, khả năng sinh lời của các doanh nghiệp chịu tác động dương bởi quy mô kinh doanh và tỷ suất tài sản cố định, trong khi đó, nó chị tác động ngược chiều bởi đòn bẩy tài chính.
Bài báo phân tích mối quan hệ giữa suất sinh lợi (SSL), độ biến thiên và khối lượng giao dịch (KLGD) trên Sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM (HOSE) trong giai đoạn 05/01/2015 đến 14/02/2020. Sử dụng kiểm định nhân quả Granger và mô hình GARCH, kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ hai chiều giữa SSL và KLGD trên HOSE. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra KLGD có tác động lên độ biến thiên trên Sàn giao dịch chứng khoán TP. HCM. Nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa SSL, độ biến thiên và KLGD trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời cung cấp các thông tin quan trọng cho nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách trong các quyết định đầu tư và quản lý.