CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Thiết kế vector biểu hiện pPICZaA mang gen MGG00245 mã hóa cho enzyme PMO / // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 59-65 .- 543
Các enzyme polysacharide monooxygenase (PMO) có nguồn gốc từ nhiều chủng nấm và vi khuẩn, được biết đến với khả năng phân hủy các polysaccharide bền như chitin, cellulose và tinh bột. Chúng có tiềm năng ứng dụng cao trong việc tăng hiệu quả phân hủy polysaccharide, tuy nhiên vẫn chưa được nghiên cứu và việc chủ động được nguồn protein là vô cùng quan trọng cho các nghiên cứu về sau. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thiết kế vector biểu hiện pPICZaA mang gen mã hóa cho PMO (pPICZaA-PMO) nhằm sản xuất protein PMO tái tổ hợp bằng chủng nấm men Pichia pastoris. Đầu tiên, chúng tôi đã tối ưu hóa codon cho gen mã hóa PMO để phù hợp chủng chủ. Tiếp đến, vector pPICZaA-PMO được tạo ra bằng kĩ thuật gen. Sau đó, vector tái tổ hợp được biến nạp vào chủng chủ P. pastoris X33. Kết quả thu được, chúng tôi đã tạo thành công vector tái tổ hợp pPICZaA-PMO và biến nạp thành công vào chủng nấm men P. pastoris X33. Đây là cơ sở để chúng tôi tiếp tục sản xuất PMO tái tổ hợp cho các nghiên cứu về sau.
2 Chế độ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam / Nguyễn Đình Huy, Bùi Thị Hằng Nga // Nghiên cứu Lập pháp .- 2021 .- Số 2 (426) .- Tr. 23-32 .- 340
Do đối tượng của hoạt động kinh doanh là rủi ro, là sự không chắc chắn, nên thực chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là bán các lời hứa trong tương lai. Các lời hứa này chính là các cam kết chi trả về tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm cho các tổn thất khi người được bảo hiểm gặp rủi ro trên thực tế. Năng lực tài chính là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo được khả năng chi trả cho những người đã tham gia bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Vì vậy, nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiệu quả, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng thì pháp luật cần có các quy định cụ thể về quản lý, giám sát để đảm bảo năng lực tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ khi rủi ro gắn liền với sức khỏe, tính mạng và tuổi thọ của người được bảo hiểm.
3 Ngày thế giới về não 2020 / Lê Đức Hinh // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 66-69 .- 610
Bệnh Parkinson là một bệnh thoái hóa thần kinh mạn tính của toàn cơ thể ảnh hưởng tới vận động và hầu hết mọi chức năng của não, chủ yếu ở người cao tuổi. Hiện nay trên thế giới có hơn 7 triệu người thuộc mọi nhóm tuổi mắc bệnh Parkinson và bệnh lý này còn ảnh hưởng tới gia đình và người chăm sóc bệnh nhân. Bài viết này đề cập tóm tắt tới các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh Parkinson để giúp hiểu biết rõ hơn về bệnh này và cách điều trị.
4 Mua bán bào thai – những khoảng trống pháp lý cần bổ sung, sửa đổi trong luật hình sự / Đỗ Cảnh Thìn, Nguyễn Thị Thuận // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 70-73 .- 345.597002632
Thời gian gần đây, tình trạng các đối tượng tổ chức cho phụ nữ mang thai ra nước ngoài để bán bào thai đang có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp. Đến nay, các cơ quan chức năng vẫn lúng túng trong việc xử lý, phần nhiều là do còn “khoảng trống” trong quy định của pháp luật. Bài viết dưới đây xin phân tích, làm rõ những vướng mắc về mặt pháp lý trong xử lý các vụ việc này.
5 Quan niệm về nạn nhân, bảo vệ nạn nhân của tội phạm trong qui định của pháp luật Việt Nam / Đỗ Cảnh Thìn, Nguyễn Thị Thiên Trinh // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 74-79 .- 340
Nghiên cứu yếu tố nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng pháp luật cũng như trực tiếp áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề này còn chưa được quan tâm nhiều ở nước ta. Bài viết dưới đây xin đề cập những nhận thức chung về nạn nhân và bảo vệ nạn nhân của tội phạm trong qui định của pháp luật Việt Nam, qua đó góp phần làm sáng tỏ thêm về nhận thức và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và thực thi pháp luật ở nước ta theo tinh thần cải cách tư pháp.
6 Về phương pháp dạy học đại học trong thời kì cách mạng công nghệp 4.0 tại Trường Đại học Duy Tân / Nguyễn Thị Thuận, Lương Thị Bích Ngân, Nguyễn Thị Kim Tiến // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 80-85 .- 371.1
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra từ đầu thế kỷ 21 là cách mạng dựa trên nền tảng công nghệ số, nhằm xây dựng thế giới siêu kết nối và tích hợp công nghệ thông minh. Đây là cuộc cách mạng tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực và khía cạnh trong đời sống xã hội, trong đó có giáo dục - đào tạo. Chính vì vậy, việc nhấn mạnh yêu cầu xã hội và bước đầu nhìn nhận đúng đắn về cách mạng số tại Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức của giảng viên và sinh viên về giáo dục thời đại mới là một yêu cầu cần thiết, đảm bảo quyền tiếp cận và trao đổi tri thức gắn liền với điều kiện xã hội, cũng như kết nối có hiệu quả mối quan hệ 3 bên: sinh viên - giảng viên - doanh nghiệp. Xây dựng một hệ sinh thái giáo dục linh hoạt, rộng mở trên nền tảng bài giảng của giảng viên, tất yếu dẫn đến cải cách phương pháp giảng dạy- cơ sở truyền đạt của giảng viên với sinh viên.
7 Giáo dục khai phóng, giáo dục nhân văn và một số gợi ý cho giáo dục đại học ở Việt Nam / Đoàn Thị Cẩm Vân // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 86-93 .- 371.1
Mô hình giáo dục khai phóng là mô hình giáo dục phổ biến ở Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây. Giáo dục khai phóng hướng đến việc đào tạo ra những con người tự do trong học tập, trong nghiên cứu, khai phá sức sáng tạo, tạo nên sự bức phá. Mô hình giáo dục ấy là mô hình tương thích với xu thế vận động của kinh tế, khoa học - công nghệ toàn cầu. Tuy vậy, những biểu hiện thiếu tích cực của đời sống văn hóa - tinh thần của người Việt lại làm cho nhiều học giả quan tâm đến phát triển giáo dục nhân văn. Vì thế, bài viết của tác giả hướng đến mục tiêu trình bày một số nội dung của triết lý giáo dục khai phóng và giáo dục nhân văn, từ đó rút ra một số gợi ý cho giáo dục đại học Việt Nam.
8 Quyền, nghiã vụ của người khía nại, người bị khiếu nại theo luật khiếu nại năm 2011 / Bùi Thị Đào // Nghiên cứu Lập pháp .- 2021 .- Số 2 (426) .- Tr. 32-37 .- 340
Theo Luật Khiếu nại năm 2011, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính; cán bộ, công chức có quyền đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại tính hợp pháp của quyết định kỷ luật khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức (gọi chung là người khiếu nại) sẽ làm phát sinh các quan hệ pháp luật giữa người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại với người khiếu nại, người có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại (gọi chung là người bị khiếu nại). Trong các quan hệ đó, mỗi bên đều có những quyền, nghĩa vụ nhất định. Trong phạm vi bài viết này, tác giả bàn về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại trong giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính và trong giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, đồng thời có so sánh với quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện, người bị kiện trong vụ án hành chính.
9 Thực trạng kết quả học lực và các yếu tố liên quan đến học lực năm học 2017 - 2018 của sinh viên chính quy ngành Dược học Trường Đại học Duy Tân / // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 94-103 .- 371.1
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 454 sinh viên ở các khóa K21, K22, K23 của Khoa Dược Trường Đại học Duy Tân. Kết quả là trong 168 sinh viên K21 có tỷ lệ sinh viên xếp loại Khá/Giỏi/Xuất sắc là 85,12% và sinh viên Yếu/Trung bình là 14,88%. Trong 145 sinh viên K22 có tỷ lệ sinh viên xếp loại Khá/Giỏi/Xuất sắc là 89,65%, còn lại là 10,35%. Trong 141 sinh viên K23 có tỷ lệ sinh viên xếp loại Khá/Giỏi/Xuất sắc là 75,18% và 24,82% là sinh viên Yếu/Trung bình. Các yếu tố liên quan đến học lực của sinh viên với mô hình hồi quy logistic đa biến là giới tính, dân tộc và phương tiện cung cấp thông tin học tập là bạn bè.
10 Nghiên cứu về thực hiện các chính sách cho dân tộc thiểu số ở Singapore / Phan Thị Nhật Tài, Nguyễn Thị Thu Na, Nguyễn Lê Hà Thanh Na // Khoa học & Công nghệ Đại học Duy Tân .- 2020 .- Số 3(40) .- Tr. 104-112 .- 340
Singapore được xem là một trong bốn con rồng Châu Á. Người dân Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa đa dạng, lành mạnh, thu nhập bình quân đầu người vào hàng cao nhất thế giới. Tăng trưởng dân số và GDP ở Singapore cao trung bình 9,2% trong suốt 25 năm đầu tiên sau độc lập. Năm 2019, Singapore có tổng số dân là 5.804.337 và tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người ở Singapore 65.233 đô la Mỹ[1]. Đạt được điều đó, không thể không kể đến chính sách pháp luật hiệu quả, tính hợp lý trong chính sách về dân tộc thiểu số ở Singapore, và những nội dung này sẽ được tác giả trình bày trong bài viết.