CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Á Nam Trần Tuấn Khải – nhà thơ của buổi giao thời / Vũ Thanh // Nghiên cứu văn học .- 2021 .- Số 4(590) .- Tr. 81-88 .- 800.01
Phân tích một cách lịch sử - cụ thể những đóng góp nghệ thuật của Á Nam chủ yếu dưới góc độ đề tài, chủ đề, việc xây dựng hình tượng nghệ thuật và thể loại tác phẩm, cho thấy vai trò lịch sử mang tính dấu nối của một nhà thơ trong buổi chuyển giao thời đại của văn học dân tộc.
2 Đi tìm cơ chế tư duy nghệ thuật trong quan hệ sinh thái và văn học, tham chiếu trường hợp sinh thái Văn học Nam Bộ / Hồ Quốc Hùng // Nghiên cứu văn học .- 2021 .- Số 4(590) .- Tr. 89-95 .- 800.01
Tìm hiểu cơ chế tư duy nhận thức thế giới, cảm thụ nghệ thuật và diễn ngôn văn bản. Từ đó chỉ ra sự khác biệt sinh thái tự nhiên cùng Nam bộ đã tạo ra sức sống riêng cho văn học so với vùng văn học phía Bắc (Việt Nam) qua một số biểu hiện trong sáng tác của các nhà văn phía Nam.
3 Các thiết chế và vai trò của chúng trong tiến trình văn học / Trần Văn Toàn // Nghiên cứu văn học .- 2021 .- Số 5(591) .- Tr. 87-96 .- 800.01
Phân tích và làm sáng tỏ vai trò của các thiết chế trong sự vận động và biến đổi của lịch sử văn học Việt Nam, qua đó nhân thức rõ hơn một vấn đề lí thuyết văn học như một diễn ngôn.
4 Nguyễn Huy Cẩn – một số nét về cuộc đời và tác phẩm / Phạm Văn Ánh // Nghiên cứu văn học .- 2021 .- Số5(591) .- Tr. 97-107 .- 327
Khái lược những nét chính về cuộc đời, sự nghiệp, sáng tác của Nguyễn Huy Cẩn, làm cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn về tác giả này.
5 Thân thế và văn học : hệ đề tài nghiên cứu / Trần Ngọc Hiếu // Nghiên cứu văn học .- 2021 .- Số 5(591) .- Tr. 108-119 .- 800.01
Lược thuật những luận điểm chính trong cuốn sách để thông tin về những chủ đề, những quan tâm chính của nghiên cứu thân thể. Từ đó đề xuất một cách “đọc” sự thể hiện thân thể trong tác phẩm văn chương.
6 Lục Thư – Bốn phương pháp tạo chữ và hai cách dùng chữ Hán / Hoàng Thanh Hương // Nghiên cứu Trung Quốc .- 2021 .- Số 3(235) .- Tr. 48-56 .- 459.92
Trình bày khái niệm Lục Thư. Tìm hiểu “Lục thư” theo thuyết bốn phương pháp tạo chữ và hai cách dùng chữ Hán, trở thành căn cứ lý luận quan trọng cho nhiều công trình nghiên cứu về cấu tạo chữ Hán và dạy học chữ Hán.
7 Việc dạy ngôn ngữ phi thông dụng tại Trường Đại học, Cao đẳng ở Trung Quốc / Thượng Phong, Vũ Minh Hải // Nghiên cứu Trung Quốc .- 2021 .- Số 4(236) .- Tr. 78-86 .- 400
Phân tích những vấn đề đang tồn tại trong việc dạy học ngôn ngữ phi thông dụng trên giảng đường, rồi tham khảo kinh nghiệm nghiên cứu của các nước phát triển về mặt dạy học ngôn ngữ phi thông dụng Từ đó đề xuất một vài giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngôn ngữ phi thông dụng.
8 Không gian đô thị Hà Nội và tác động đối với Ngôn ngữ, ứng xử ngôn ngữ đô thị (nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội đô thị) / Đặng Thị Thanh Thúy // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2021 .- Số 4(310) .- Tr. 3-11 .- 327
Phân tích những phát ngôn về tiếng Hà Nội và về không gian đô thị Hà Nội với mong muốn làm rõ đặc thù của không gian đô thị Hà Nội đối với việc hình thành các chuẩn mực và sự tác động của các chuẩn mực mang tính đô thị đối với ngôn ngữ và cách ứng xử ngôn ngữ của các cộng đồng cùng sinh sống tại Hà Nội.
9 Vai trò biểu hiện nghĩa tình thái của quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt / La Thị Mỹ Quỳnh // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2021 .- Số 4(310) .- Tr. 12-20 .- 400
Tập trung miêu tả chi tiết vai trò của quan hệ từ phụ thuộc trong việc thể hiện hai loại nghĩa tình thái chủ quan: Thể hiện những đánh giá về lượng đối với sự tình và thể hiện những đánh giá về chất đối với sự tình. Từ đó, khẳng định thêm một vai trò mới của quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt trên bình diện nghĩa học, đồng thời cũng góp phần thể hiện một cách nhìn nhận khác về vị thế, vai trò của quan hệ từ phụ thuộc trong hệ thống từ loại tiếng Việt.
10 Tổ hợp thành ngữ tính tiếng Anh mang thành tố tên riêng và việc dịch chúng sang tiếng Việt / Nguyễn Việt Khoa // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2021 .- Số 4(310) .- Tr. 12-20 .- 400
Tìm hiểu các tổ hợp thành ngữ tính tiếng Anh có chứa các thành tố tên riêng (bất kể là tên người, tên đất, tên dân tộc… hay các dạng phái sinh của chúng) và từ đó đề xuất hướng dịch các tổ hợp thành ngữ tính này sang tiếng Việt