Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách trong cả nước có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu - nước mạnh - dân chủ - công bằng - văn minh.
Khảo sát từ đứng ở ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát và toàn diện hơn về từ ngữ này nói riêng và nhóm từ chỉ tư thế nói chung.
Bài viết này xem xét mối quan hệ giữa quản trị ngân hàng và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại(NHTM), từ đó đề xuất mô hình đánh giá định lượng nhằm kiểm định mối quan hệ giữa quản trị ngân hàng với kết quả hoạt động của 18 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2020. Kết quả cho thấy, yếu tố sỡ hữu của nhà đầu tư nước ngoài là một trong những yếu tố quan trọng có khả năng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và chất lượng trong hoạt động của các NHTM. Bên cạnh đó, việc hội đồng quản trị (HĐQT) có thành viên là nữ tham gia cũng là một yếu tố tác động tích cực đến kết quả hoạt động của các ngân hàng. Trên cơ sở kết quả kiểm định và nguyên tắc quốc tế về quản trị công ty trong NHTM, bài viết đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị ngân hàng ở Việt Nam.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang tác động sâu rộng đến nền kinh tế thế giới, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế số ở một số ở mọi quốc gia. Chính vì vậy, công nghệ số ngày càng được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực, đặc việt là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Việc chuyển đổi số ở các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong những năm qua đã mang lại cho các ngân hàng những lợi ích và lợi thế trong cạnh tranh. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số ở các NHTM đang gặp nhiều khó khăn, thách thức và vấn đề đặt ra cho các NHTM là cần chuyển đổi số thế nào cho phù hợp với điều kiện và xu hướng hiện nay. Bài viết tập trung đánh giá thực trạng chuyển đổi số, chỉ ra những khó khăn, thách thức mà các NHTM đang phải đối mặt, từ đó đề xuất một số giải pháp và khuyến khích nhằm đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số ở các NHTM trong thời gian tới.
Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 đã được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 17/6/2020 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021 (LDN 2020) Văn bản luật này có khá nhiều qui định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cả trên phương diện chỉ định lẫn trên phương tiện quyền và nghĩa vụ của chức danh này. Bài viết tập trung phân tích các ưu điểm và hạn chế của các qui định dưới góc nhìn thực tiễn, đồng thời, đánh giá một số tác động tới hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng.
Agribank sẵn sàng bức phá cho nấc thang phát triển vươn tầm nông thôn mới kiểu mẫu của Việt Nam theo chương trình mục tiêu Agribank thực hiện chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới; và hành trình 10 năm "thay áo mới" thực sự đã tạo ra bước đột phá lịch sử làm thay đổi diện mạo nông thôn Việt Nam.
ự suy thoái nghiêm trọng của kinh tế toàn cầu năm 2020 và các phản ứng chính sách kinh tế nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực do đại dịch Covid-19 đã làm gia tăng mức nợ tại các thị trường mới nổi và đang phát triển. Tuy nhiên, ngay cả trước khi đại dịch xảy ra, khối nợ tại các nền kinh tế này cũng đã được tích lũy và phá triển nhanh chóng, có thể được gọi là " Làn sóng nợ thứ tư".
Kinh tế số (Digital economy) là nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số. Ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là các quốc gia thuộc ASEAN, kinh tế số không chỉ "bệ phóng" cho tăng trưởng kinh tế, mà còn là cơ sở thúc đẩy kết nối ASEAN với các đối tác trong và ngoài khu vực. Kinh tế số của ASEAN đang phát triển mạnh, có tiềm năng trở thành một trong năm nền kinh tế số hàng đầu thế giới. Thị trường kỹ thuật số ASEAN đã tăng gấp ba lần trong ba năm (2017-2020) và chiếm 7% GDP của ASEAN sẽ lên tới 300 tỷ USD năm 2025.
Nghiên cứu này được thực hiện, nhằm xem xét và phân tích tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Nghiên cứu đã đề xuất tiêu chí đo lường tính hữu hiệu của HTTTKT, trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói riêng. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra 4 thành phần đo lường tính hữu hiệu của HTTTKT; đó là chất lượng HTTTKT, chất lượng thông tin kế toán do HTTTKT tạo ra, những ảnh hưởng tính cực đối với cá nhân và tổ chức.