Xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến dòng tiền tự do của doanh nghiệp. Mẫu nghiên cứu gồm 150 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017 - 2019. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến dòng tiền tự do. Kết quả cho thấy mô hình tác động cố định là phù hợp nhất và 03 nhân tố hàng tồn kho, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, kỳ thu tiền bình quân có tác động ngược chiều, 02 nhân tố quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động có tác động cùng chiều, trong khi đó nhân tố lợi nhuận dường như không có ảnh hưởng.
Tài chính toàn diện là các dịch vụ tài chính được cung ứng tới mọi thành viên theo cách thức thuận tiện và phù hợp với nhu cầu, góp phần tạo cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tác giả đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện hướng tới nền kinh tế không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong thời gian tới
Bài nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng triển khai quản trị rủi ro theo Basel II tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro theo Basel II cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Đề tài nghiên cứu phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2020, với bộ dữ liệu bảng thu thập từ 30 ngân hàng thương mại
Nghiên cứu nhằm phát hiện yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chuyên môn của cán bộ quỹ tín dụng nhân dân, tác giả khuyến nghị cải tiến phương pháp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quỹ tín dụng nhân dân để nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ và phát triển bền vững hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong dài hạn
Qua phân tích tình hình ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về kinh tế tập thể, các tác giả đã chỉ ra kết quả tích cực, những mặt còn tồn tại, hạn chế trong ban hành cũng như trong quá trình thực hiện để kịp thời kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật, nhất là pháp luật về hợp tác xã. Góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về kinh tế tập thể.
Bài viết bàn về khái niệm người chưa thành niên trong pháp luật hình sự của các quốc gia trên thế giới, các triết lí phổ biến trong việc xử lí người chưa thành niên phạm tội; qua đó lí giải tại sao trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên lại có điểm khác biệt so với trách nhiệm hình sự của người đã thành niên. Bài viết đưa ra gợi ý cho việc thiết kế, xây dựng cà tổ chức vận hành hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên ở Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thiết chế có vị trí, vai trò đặc biệt trong cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước Việt Nam. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập pháp, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, trong đó có giám sát đối với quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước, ngân sách Nhà nước là cần thiết, nhưng không phải là ý muốn chủ quan của Đảng, Nhà nước hay Quốc hội mà xuất phát từ chính những yêu cầu, đòi hỏi mang tính thực tiễn khách quan trong hoạt động của Quốc hội.
Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tính thanh khoản của 145 doanh nghiệp niêm yết, trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. HCM (HOSE) liên tục 10 năm, giai đoạn 2009 -2018. Để giải quyết các vấn đề nội sinh, nghiên cứu sử dụng mô hình GMM trong phân tích dữ liệu bảng động. Kết quả cho thấy, ngoại trừ GDP không có ảnh hưởng nào đến tính thanh khoản công ty thì lạm phát và lãi suất ngắn hạn đều có tác động ngược chiều đến tính thanh khoản. Nghiên cứu đã mở rộng nền lý thuyết về tính thanh khoản và cung cấp bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam rằng, ngoài các yếu tố đặc thù doanh nghiệp thì tính thanh khoản của doanh nghiệp còn chịu sự tác động từ các chính sách kinh tế vĩ mô.
Bài viết tập trung phân tích những khó khăn mà doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước, trường đại học và các nhà nghiên cứu, công ty kiểm toán, hội nghề nghiệp gặp phải, khi triển khai áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục các khó khăn này, giúp doanh nghiệp áp dụng IFRS vào thực tiễn.