Trong nghiên cứu này, tác giả khái quát hoá các nghiên cứu về thành quả hoạt động của doanh nghiệp, từ định nghĩa, cách thức đo lường. Nghiên cứu kết luận, đánh giá thành quả không chi gắn với chỉ tiêu tài chính, mà còn là các chỉ tiêu phi tài chính.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn đã sử dụng Thẻ điểm cân bằng (BSC) để chuyển hóa tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động, nhưng với các các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì mức độ sử dụng BSC thấp hơn đáng kể. Dựa trên tài liệu nghiên cứu, bài viết đưa ra các thách thức đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc thực hiện BSC, đồng thời đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy việc áp dụng BSC trong các doanh nghiệp này với phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Nghiên cứu đề xuất một mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định vận dụng IFRS cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Mô hình được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu định lượng phân tích EFA và hồi quy tuyến tính đa biến của bộ dữ liệu thu thập được, từ 185 doanh nghiệp khác nhau. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, 60,6% ý định vận dụng IFRS của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ảnh hưởng bởi 5 nhân tố theo thứ tự mức độ ảnh hưởng giảm dần như sau: Thị trường vốn, Hệ thống pháp luật, Trình độ giáo dục, Tăng trưởng kinh tế, Văn hóa.
Bài viết đánh giá những nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu chung của Liên hợp quốc về duy trì hòa bình và an ninh quốc tế thời gian qua trên cơ sở phân tích sự vận động của tình hình thế giới về hòa bình, an ninh từ góc nhìn pháp lý quốc tế; phân tích nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc theo Hiến chương; từ đó nhìn lại chủ trương, chính sách và các hành động cụ thể của Việt Nam cũng như đánh giá kết quả những nỗ lực này.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập báo cáo tài chính của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam, dựa trên kế thừa kết quả nghiên cứu của Husam Al-Khaddash và cộng sự (2013). Kết quả nghiên cứu cho biết nhân tố có sự tác động mạnh nhất thuộc về kiểm toán viên, đó là tính độc lập của kiểm toán viên và năng lực chuyên môn của kiểm toán viên; Tiếp đến là nguyên nhân nội tại thuộc về Ngân hàng Thương mại qua đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ; Giá phí kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán cũng là nhân tố cần lưu tâm và sau cùng là quy mô của doanh nghiệp kiểm toán và hoạt động kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp kiểm toán từ các cơ quan quản lý.
Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tổ ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc chấp nhận sử dụng phần mềm kế toán, tại các khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, dựa trên các kiểm định độ tin cậy Cronbach Alpha, kiểm định nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, có 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng phần mềm kế toán tại các khách sạn; đó là: Giá trị cảm nhận, Sự sẵn sàng của khách sạn, Chi phí, Sức ép cạnh tranh. Rủi ro ứng dụng.
Bài viết phân tích vấn đề nâng cao chất lượng thành viên của quỹ tín dụng nhân dân dưới góc nhìn từ các quy định về kết nạp và quản lý thành viên, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thành viên một cách bền vững, phù hợp với mô hình và đặc thù của hê thống quỹ tín dụng nhân dân tại Việt Nam hiện nay
Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc từ năm 1977, đến nay đã là 44 năm. Trong suốt quãng thời gian đó, Việt Nam đã luôn cố gắng để thực hiện tốt những nghĩa vụ thành viên của mình và được đánh giá là “ thành viên có trách nhiệm” trong các hoạt động của Liên hợp quốc nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung. Bài viết phân tích những thành tựu trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên hợp quốc qua từng giai đoạn phát triển, đồng thời chỉ ra những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong giai đoạn tới.