Thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) và thông tin về CSR luôn thể hiện chiến lược phát triển của mỗi doanh nghiệp trên các khía cạnh như quản lý thu nhập, kiểm soát thị trường và năng lực quản trị rủi ro. Mức độ thực hiện và thông tin về CSR của doanh nghiệp có thể dẫn đến nhận định và xét đoán chuyên môn khác nhau của kiểm toán viên, khi kiểm toán báo cáo tài chính. Để làm rõ hơn mối quan hệ ảnh hưởng giữa CSR và nỗ lực kiểm toán, chất lượng kiểm toán trong điều kiện đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi áp dụng mô hình định lượng để nghiên cứu thực nghiệm khả năng tác động của CSR đối với hoạt động kiểm toán tài chính của các công ty niêm yết trong lĩnh vực sản xuất. Để từ đó, đề xuất một số khuyến nghị cho cà các doanh nghiệp và kiểm toán viên, góp phần tăng tính minh bạch thông tin tài chính doanh nghiệp trên thị trường.
Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến đến chất lượng báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Biên Hòa. Từ đó, tác giả khuyến nghị các nhằm cải thiện chất lượng báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, trong thời gian tới.
Nhận diện và phân loại đóng vai trò quan trọng, trong quá trình kế toán tài sản tài chính (TSTC) của các ngân hàng thương mại (NHTM). TSTC được đo lường và ghi nhận ra sao, phụ thuộc vào việc chúng được phân vào loại nào và điều này sẽ quyết định giá trị của tài sản cũng như kết quả kinh doanh phát sinh từ tài sản. Do đó, sự nhất quán trong phân loại TSTC sẽ tạo ra sự nhất quán và tính so sánh được của thông tin tài chính giữa các ngân hàng. Trong bài viết này, tác giả tóm tắt thực trạng về khuôn khổ pháp lý, về phân loại TSTC tại các NHTM Việt Nam. Từ đó, đưa ra nhận xét và kiến nghị để hoàn thiện việc phân loại, góp phần nâng cao chất lượng và tính so sánh được của thông tin.
Bài viết tập trung phân tích các vấn đề pháp lí về Ủy ban Nhân quyền và các quy định liên quan đến quy trình thực hiện báo cáo định kì về viêc thực thi công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1996 của các quốc gia thành viên. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra những thay đổi chính trong quy trình thực hiện báo cáo theo khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền bắt đầu từ năm 2019, trên cơ sở đó đưa ra những bình luận ưu, nhược điểm của từng quy trình và những đề xuất cho việc thực hiện báo cáo định kì tiếp theo của Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 257 doanh nghiệp, đối tượng khảo sát là các giám đốc điều hành và kế toán trưởng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất. Phần mềm SPSS 26.0 đã được sử dụng, để hỗ trợ cho phân tích dữ liệu.
Bài viết này hệ thống hóa sự hình thành và phát triển của kế toán quản trị môi trường và thực trạng kế toán quản trị môi trường, tại một số quốc gia phát triển trên thế giới. Trên cơ sở đó, bài viết cũng đã chỉ ra những điểm tương đồng về thực hành kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam, với các quốc gia trên thế giới.
Báo cáo tài chính là một trong những kênh thông tin quan trọng giúp nhà đầu tư và các chủ nợ đánh giá được tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một trong những loại báo cáo không thể thiếu, trong việc ra quyết định liên quan đến thị trường vốn. Sự minh bạch của báo cáo tài chính thúc đẩy sự tin tưởng trong các giao dịch trong thị trường vốn. Tuy nhiên, trên thực tế, báo cáo tài chính thường bị thao túng hay điều chỉnh theo các mục đích nào đó của người lập, nhất là các chỉ tiêu liên quan đến kết quả kinh doanh như thu nhập hay lợi nhuận. Bài viết trình bày tầm quan trọng của việc nghiên cứu thực nghiệm thao túng lợi nhuận cũng như các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của chủ đề trên, cũng như tác dụng của từng phương pháp.
Cộng đồng người Mường ở khu vực lòng hồ Hòa Bình đã tạo nên một nền văn hóa có bản sắc rõ nét với các đặc trưng cơ bản của nếp sống văn hóa. Trong những năm gần đây, loại hình bảo tàng sinh thái đang hình thành và phát triển mạnh gắn giữa bảo tồn và phát triển. Bài báo đã sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học và điều tra xã hội học để xây dựng mô hình Bảo tàng sinh thái cộng đồng Mường cho khu vực hồ thủy điện Hòa Bình. Đây là một mô hình bảo tàng mới về quan niệm, hình thức và nội dung tổ chức trưng bày cũng như các phương thức hoạt động. Mô hình bảo tàng được thiết kế đặt tại bản Ngòi, xã Ngòi Hoa, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình với đầy đủ các hợp phần: tổ chức quản lý, sản phẩm du lịch và tổ chức triển khai mô hình. Bảo tàng sinh thái cộng đồng Mường sẽ tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo, vừa hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng vừa góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Mường ở khu vực hồ Hòa Bình
Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) là một trong các đối tượng sở hữu công nghiệp, là thông tin về nguồn gốc địa lý của sản phẩm từ một quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương sản xuất ra sản phẩm đó. Việc bảo hộ và khai thác giá trị của CDĐL đối với nông sản của Việt Nam là yêu cầu cấp bách hiện nay khi hội nhập kinh tế quốc tế.Nghiên cứu này nhằm xác lập cơ sở khoa học phục vụ xây dựng CDĐL cho sản phẩm miến dong riềng tỉnh Bắc Kạn. Bằng các phương pháp phân tích định tính, định lượng kết hợp sử dụng các kỹ thuật xử lý thống kê và so sánh, tính toán tần suất và kiểm định sự sai khác giữa các đặc trưng đã chỉ ra được những đặc thù hình thái và chất lượng củ dong riềng nguyên liệu, đặc thù chất lượng miến dong riềng của tỉnh Bắc Kạn khác biệt so với các vùng địa lý so sánh khác. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp các dẫn liệu khoa học có độ tin cậy để xây dựng CDĐL cho sản phẩm miến dong riềng tỉnh Bắc Kạn, góp phần quản lý chặt chẽ quy trình sản xuất, đảm bảo chất lượng, phát triển thương hiệu, quảng bá sản phẩm và nâng cao giá trị, khả năng cạnh tranh của sản phẩm mang CDĐL trên thị trường.
Lập kế hoạch dòng tiền có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác quản trị tài chính doanh nghiệp, vì năng lực thanh toán của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng dòng tiền của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh thường nảy sinh sự không ăn khớp nhau về thời gian giữa thu và chi bằng tiền, dẫn đến sự mất cân đối giữa khả năng cung ứng và nhu cầu chi tiêu bằng tiền vào những thời điểm trong những thời kỳ nhất định. Tại Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội (HANDICO), công tác lập kế hoạch dòng tiền chưa được quan tâm đúng mức. Nghiên cứu sau đây đề cập đến thực trạng lập kế hoạch dòng tiền cùng những đánh giá và các khuyến nghị về các giải pháp, nhằm cải thiện công tác lập kế hoạch dòng tiền tại HANDICO.