Bài báo này nhằm cung cấp một sự so sánh về hiệu quả dự báo giá dầu thô giữa các phương pháp phổ biến hiện nay. Trong đó, mô hình dự báo giá dầu được nhóm tác giả xây dựng trên các khía cạnh chính của động lực giá dầu là chính sách tiền tệ và tình trạng cạn kiệt dầu thô. Với dữ liệu được thu thập hàng tháng từ tháng 1 năm 1986 đến tháng 5 năm 2020, giá dầu thô được dự báo thông qua 3 mô hình là mô hình vectơ tự hồi quy (VAR), mô hình hồi quy toán tử co gọn và lựa chọn tối thiểu (LASSO), mô hình mạng bộ nhớ ngắn hạn dài hạn (LSTM). Kết quả cho thấy theo cả ba chỉ số là độ lệch sai số trung bình (RMSE), phần trăm sai số tuyệt đối trung bình (MAPE) và trung bình sai số bình phương (MSE), mô hình LSTM sẽ cho kết quả dự đoán chính xác hơn so với mô hình VAR và LASSO.
Phân tích các giải pháp mà FED đã thực hiện trong giai đoạn vừa qua, trên cơ sở so sánh với những biện pháp đã triển khai tại Việt Nam, tác giả đề xuất một số khuyến nghị chính sách.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, dựa trên dữ liệu khảo sát quy mô mẫu 489 doanh nghiệp. Các phương pháp kiểm định gồm Cronbach's Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có 7 nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRS của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết Việt Nam, trong đó 05 nhân tố tác động thuận chiều gồm thái độ nhà quản trị, hội nhập kinh tế, năng lực kế toán viên, quy mô doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp và 02 nhân tố tác động ngược chiều gồm hệ thống pháp luật, chi phí.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp (DN) kinh doanh mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Nghiên cứu được thực hiện với đối tượng phân tích là BCTC báo cáo thường niên đã được kiểm toán năm 2018 của 24 DN ngành hàng tiêu dùng thiết yếu được niêm yết trên sàn HOSE. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian hoạt động, tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) có sự tương quan thuận đến chất lượng thông tin BCTC của DN.
Đại dịch Covid-19 bùng phát, đã ảnh hưởng vô cùng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặt ra cho nền kinh tế nói chung và cho các công ty kiểm toán nói riêng, nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Nghiên cứu tác động của đại dịch Covid-19 trong quá trình kiểm toán dưới nhiều góc độ khác nhau của mô hình kiểm toán, giúp kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra được những giải pháp hữu ích nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, giảm thiểu rủi ro kiểm toán.
Thủ tục phân tích được thực hiện trong hầu hết các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. Tầm quan trọng của thủ tục phân tích được nêu rõ trong cả các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng như nhiều nghiên cứu trước. Mục tiêu bài viết nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển thủ tục phân tích trong kiểm toán, sự cần thiết cũng như các kỹ thuật phân tích được vận dụng trong xét đoán chuyên nghiệp của kiểm toán viên.
Việc kiểm soát chi phí được thực hiện cả trước, trong và sau khi thực hiện kế hoạch về chi phí dịch vụ khám, chữa bệnh (KCB) tại các bệnh viện công lập (BVCL). Phương pháp so sánh, đối chiếu, xác định và phân tích mức chênh lệch chi phí là một biện pháp hữu hiệu có thể dùng kiểm soát chi phí, từ đó có thông tin tư vấn cho nhà quản trị. Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động, chi phí dịch vụ KCB bao gồm biến phí và định phí. Trong phạm vi bài viết, tác giả đi sâu phân tích chênh lệch biến phí dịch vụ KCB phục vụ chức năng kiểm soát chi phí tại các BVCL.
Ngày 05/11/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Nghị định 132/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/12/2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020. Nghị định 132 đã kế thừa nhiều nội dung của Nghị định 20/2017/NĐ-CP ("Nghị định 20”) và Nghị định 68/2020/NĐ-CP (“Nghị định 68”) nhưng có thêm nhiều thay đổi phù hợp hơn theo xu thế phát triển về thuế quốc tế. Nghị định 20 và Nghị định 68 sẽ hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 132 có hiệu lực thi hành.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, ước giải ngân vốn đầu tư công đến ngày 30/9/2021 đạt khoảng 218.550,92 tỷ đồng, bằng 47,38% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao. Như vậy, với việc trải qua 2/3 thời gian của năm 2021, tiến độ giải ngân hiện nay chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Bài viết điểm lại tình hình, kết quả giải ngân vốn đầu tư công, từ đó nhận diện những yếu tố tác động cần tăng cường các giải pháp tháo gỡ trong thời gian tới.
Việc thực hiện đầu tư công trong giai đoạn vừa qua đã đạt được những kết quả tích cực, tạo động lực thúc đẩy phát triển và lan tỏa trong toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng lãng phí, chất lượng công trình thấp, giải ngân vốn đầu tư công chậm, dẫn đến việc chậm đưa công trình vào sử dụng, qua đó ảnh hưởng đến tác động lan tỏa của đầu tư công. Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ cơ cấu lại đầu tư công, đẩy nhanh tốc độ giải ngân và nâng cao hiệu quả đầu tư công, coi đây điều kiện cần để kịp thời tận dụng các cơ hội, tạo tiền đềphát triển kinh tế, chuyển đổi rõ nét hơn mô hình tăng trưởng, đưa đất nước lên nấc thang phát triển mới.