CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm suy giảm nhận thức ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội bằng thang MoCA / Đoàn Thị Huệ, Lê Thị Mỹ Linh, Nguyễn Văn Tuấn, Lê Thị Thu Hà // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 164-172 .- 610
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội bằng thang MoCA, theo thiết kế mô tả cắt ngang trên 763 người từ 60 tuổi trở lên trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 01/2025. Tỷ lệ suy giảm nhận thức là 70,4%, trong đó suy giảm nhận thức mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (46,1%). Điểm trung bình thang MoCA là 21,3 ± 6,3. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy nguy cơ suy giảm nhận thức cao hơn ở nữ giới, tăng rõ theo tuổi và cao hơn ở nhóm sống tại khu vực nông thôn. Trình độ học vấn cao có vai trò bảo vệ đối với suy giảm nhận thức. Các lĩnh vực nhận thức bị ảnh hưởng nhiều nhất là ghi nhớ có trì hoãn (90,8%) và thị giác không gian (81,9%), tiếp theo là khả năng tập trung chú ý, ngôn ngữ lưu loát và trừu tượng hóa. Trong khi đó, khả năng định hướng và gọi tên đồ vật là các lĩnh vực ít bị ảnh hưởng nhất.
2 Đặc điểm khớp cắn trên hệ thống T-Scan Novus ở nhóm sinh viên có dấu hiệu nghiến răng / Đinh Quang Chiến, Chử Tiến Mạnh, Nguyễn Thị Châu, Phạm Thùy Linh, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Vũ Thị Quỳnh Hà, Hoàng Thị Thu Trang, Tạ Thị Tươi, Đinh Thị Minh Thúy, Nguyễn Ngọc Anh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 173-181 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 45 sinh viên lớp Y2RHM và Y3RHM tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 nhằm mô tả đặc điểm khớp cắn ở nhóm có dấu hiệu nghiến răng bằng hệ thống T-Scan Novus. Tỷ lệ sinh viên nam chiếm 42,2% và nữ chiếm 57,8%. Ở nhóm nghiến răng khi thức, hình thức siết chặt răng chiếm 68,4%; ở nhóm nghiến răng khi ngủ, cọ xát răng chiếm 96,0% và siết chặt răng chiếm 4,0%. Tại vị trí lồng múi tối đa, lực cắn phân bố chủ yếu ở vùng răng sau, trong đó trung vị lực cắn vùng răng hàm lớn hàm dưới và hàm trên lần lượt đạt 37,75% và 34,15%, trong khi vùng răng trước có giá trị thấp nhất. Răng hàm lớn thứ hai là răng được ghi nhận chịu lực cắn mạnh nhất ở tỷ lệ cao nhất (60,0% số trường hợp), tiếp theo là răng hàm lớn thứ nhất (35,56%) và răng hàm lớn thứ ba (4,44%). Thời gian ăn khớp trung bình là 0,93 ± 0,34 giây và thời gian nhả khớp trung bình là 0,78 giây.
3 Đánh giá đau lan tỏa, khuyết tật chức năng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân gút / Trần Thị Thu Phương, Nguyễn Thị Phương Thủy // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 182-190 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 81 bệnh nhân gút cấp và mạn tính được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2015, điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2026. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 53,7 ± 15,3; 91,4% nam giới, chỉ số khuyết tật chức năng trung vị là 0,875 (IQR: 0,375 – 1,25). Có 20/81 bệnh nhân xuất hiện tình trạng tăng nhạy cảm đau lan tỏa theo bộ câu hỏi Generalized Pain Questionnaire, chiếm tỷ lệ 24,7%. Trong nhóm bệnh nhân có đau lan tỏa, các triệu chứng gặp phổ biến nhất gồm đau khi có kích thích nhẹ trên bề mặt da (100%), đau sau ma sát (95%), đau kéo dài sau khi kích thích đã chấm dứt (100%) và cảm giác đau dữ dội hơn bình thường khi tiếp xúc với kích thích (100%). Phân tích hồi quy logistic đa biến, mô hình đạt chỉ số AUC là 0,943; p < 0,001; 95% CI: 0,892 – 0,995, mức độ đau khớp theo VAS và nồng độ acid uric trong huyết thanh được xác định là các yếu tố dự báo độc lập với tình trạng đau lan tỏa, trong đó điểm đau khớp theo VAS có vai trò nổi bật (p = 0,006), OR = 8,132 (95% CI: 1,818 – 36,37).
4 Đánh giá độc tính của siro Liver Zen trên động vật thực nghiệm / Đậu Thùy Dương, Phạm Thị Vân Anh, Lê Quốc Kỳ // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 191-199 .- 610
Siro Liver Zen là sản phẩm được bào chế từ các dược liệu, với mục đích sử dụng dự kiến để hỗ trợ điều trị các bệnh lý gan như viêm gan và rối loạn chức năng gan. Nghiên cứu này nhằm đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của siro Liver Zen trên chuột nhắt trắng chủng Swiss. Trong thử nghiệm độc tính cấp, chuột được cho uống siro với các mức liều tăng dần để xác định giới hạn an toàn.
5 Quá trình ra quyết định lâm sàng và một số yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội - Phân hiệu Thanh Hóa năm 2025 / Nguyễn Thu Hà, Lê Khắc Mạnh, Nguyễn Thành Chung, Ngọ Diệu Linh, Nguyễn Thị Kim Oanh, Nguyễn Thị Sơn // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 200-208 .- 610
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 194 sinh viên điều dưỡng chính quy tại Trường Đại học Y Hà Nội – Phân hiệu Thanh Hóa năm 2025 nhằm mô tả quá trình ra quyết định lâm sàng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Kết quả: Điểm trung vị quá trình ra quyết định lâm sàng đạt 73 (IQR: 69 – 75), trong đó mức Bán phân tích – Trực giác chiếm ưu thế (75,3%). Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), giải thích 37,1% biến thiên của quá trình ra quyết định lâm sàng. Học lực, sự tự tin và điểm rèn luyện tốt là các yếu tố liên quan độc lập, trong đó học lực là yếu tố dự báo mạnh nhất trong mô hình.
6 Kết quả sống thêm sau phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô tuyến dạ dày tại Bệnh viện K giai đoạn 2019 - 2025 / Phạm Văn Bình, Lê Văn Thành // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 209-218 .- 610
Nghiên cứu hồi cứu trên 199 người bệnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày được phẫu thuật nội soi triệt căn tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025 nhằm đánh giá kết quả sống thêm và các yếu tố tiên lượng với 2 mục tiêu chính: Đánh giá thời gian sống thêm toàn bộ và thời gian sống thêm không bệnh của người bệnh ung thư dạ dày được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025; Phân tích một số yếu tố liên quan đến thời gian sống thêm toàn bộ của nhóm người bệnh trên.
7 Can thiệp sớm trong viêm cân mạc hoại tử chi trên: Một loạt ca bệnh / Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Tiến Dũng // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 219-225 .- 610
Viêm cân mạc hoại tử (Necrotizing Fasciitis – NF) là nhiễm trùng mô mềm tiến triển nhanh với tỷ lệ tử vong và mất chi cao; trì hoãn phẫu thuật làm tăng nguy cơ sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng. Nghiên cứu báo cáo 2 trường hợp NF chi trên nặng điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 nhằm đánh giá vai trò của phẫu thuật kiểm soát ổ nhiễm khuẩn sớm kết hợp điều trị đa mô thức. Cả hai bệnh nhân đều được hồi sức tích cực, dùng kháng sinh phổ rộng, lọc máu liên tục khi cần và cắt lọc sớm song song với hồi sức. Sau kiểm soát nhiễm khuẩn, VAC, ghép da và chuyển vạt tự do được áp dụng để tái tạo tổn khuyết. Trường hợp 1 là NF type I sau rắn hổ mang cắn với nhiễm khuẩn đa vi khuẩn và hội chứng chèn ép khoang; trường hợp 2 là NF type III do Vibrio vulnificus trên nền suy giảm miễn dịch. Cả hai bệnh nhân được phẫu thuật trước khi huyết động ổn định hoàn toàn, sau đó cải thiện toàn thân rõ rệt và bảo tồn được chi thể.
8 Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ tái phát cao / Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Xuân Hiền, Phạm Thái Dương, Nguyễn Xuân Hậu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 226-235 .- 610
Ung thư tuyến giáp thể biệt hóanguy cơ tái phát cao thường có đặc điểm xâm lấn rộng ngoài tuyến giáp, di căn hạch lớn và di căn xa, làm tăng tỷ lệ tái phát và tử vong. Nghiên cứu hồi cứu trên 79 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ tái phát cao được phẫu thuật tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội (01/2022 - 12/2023) cho thấy tỷ lệ xâm lấn thần kinh thanh quản quặt ngược, khí quản, thực quản lần lượt là 54,4%, 27,8% và 10,1%. Biến chứng sau mổ chủ yếu là khàn tiếng (25,3%) và tê bì tay chân (29,2%), với tỷ lệ biến chứng kéo dài > 6 tháng tương ứng là 10,1% và 12,7%. Nhóm xâm lấn rộng ngoài tuyến giáp (pT4a) có xu hướng biến chứng cao hơn (OR = 1,57), sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,519). Sau 6 tháng điều trị ban đầu, 39,2% đạt đáp ứng xuất sắc . Kết quả nhấn mạnh vai trò phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch cổ trong kiểm soát tại chỗ và hỗ trợ điều trị I-131 ở nhóm nguy cơ cao.
9 Kết cục thai kỳ xấu và yếu tố liên quan ở sản phụ tiền sản giật tại Hải Phòng / Nguyễn Thanh Hải, Bùi Văn Hiếu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 236-243 .- 610
Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kết cục thai kỳ xấu ở 230 sản phụ mắc tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 01/2021 đến 12/2022 dựa vào thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Kết cục thai kỳ xấu được xác định khi có ít nhất một biến cố ở mẹ (tử vong, sản giật, HELLP, nhau bong non, tổn thương thận, phù phổi, xuất huyết não) hoặc ở con (thai nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung, tử vong chu sinh).
10 Tác dụng liền vết thương của Medicell Plus Premium trên mô hình gây tổn thương da thực nghiệm / Nguyễn Thị Thanh Loan, Trần Thanh Tùng, Trần Sách Việt // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 244-256 .- 610
Medicell Plus Premium là một chế phẩm dùng ngoài da chứa 11% dịch chiết nuôi cấy tế bào gốc tủy xương, kết hợp với chiết xuất từ tế bào hoa nhung tuyết (Leontopodium alpinum), cùng nhiều peptid và collagen thủy phân. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng liền vết thương và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium trên chuột nhắt trắng chủng Swiss bị gây tổn thương da. Chuột nhắt trắng được gây tổn thương da ở vùng gáy, sau đó điều trị tại chỗ bằng gel Contractubex (0,1 g/lần, 2 lần/ngày) hoặc Medicell Plus Premium (0,15 mL/lần, 1 hoặc 2 lần/ngày) trong 14 ngày liên tục.