CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Đổi mới công nghệ ở Việt Nam : đánh giá tác động đến tăng trưởng kinh tế và một số khuyến nghị / Vũ Văn Hưng // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 12(753) .- Tr. 7-10 .- 330
Nhằm cung cấp ý tưởng cho các nhà hoạch định chính sách và các lãnh đạo đầu ngành của Việt Nam trong việc đưa ra quyết định đầu tư cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Đổi mới và sáng tạo công nghệ là chìa khóa để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững và đi tắt đón đầu trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Sự lãnh đạo quyết liệt cùng thể chế mạnh là chìa khóa để Việt Nam năm bắt những cơ hội này và tháo gỡ những nút thắt để tiếp tục phát triển kinh tế.
2 Đổi mới sáng tạo : một số vấn đề cần quan tâm / PGS. TS. Trần Ngọc Ca // .- 2021 .- Số 12(753) .- Tr. 11-13 .- 330
Trình bày kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo (ĐMST) quốc gia ở một số nước, thực trạng ĐMST của Việt Nam và đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động ĐMST ở nước ta trong thời gian tới. Bài học chính sách ở đây là các nước đang phát triển như Việt Nam cần ưu tiên bảo vệ lợi ích của người nghèo với việc xây dựng một hệ thống ĐMST mang tính bao trùm và hướng tới phát triển bền vững, với nhiều hơn số doanh nghiệp và lực lượng lao động có thể tham gia vào các hoạt động ĐMST. Các chính sách cần tập trung hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực công nghệ quốc gia, năng lực điều hành, quản trị sản xuất, thiết kế, biến tri thức sẵn có thành những giá trị mới.
3 Thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khu vực phía Nam / // .- 2021 .- Số 12(753) .- Tr. 14-17 .- 330
Cung cấp bức tranh khái quát về thực trạng đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) của doanh nghiệp khu vực phía Nam, đồng thời đưa ra các khuyến nghị sát thực và khả thi. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Đông Nam Bộ (ĐNB) là khu vực có vị thế, vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, những năm gần đây, đà tăng trưởng của khu vực này đang có dấu hiệu chững lại do phải đối mặt với nhiều khó khăn như tình trạng hạn, mặn, sạt lở, ngập lụt, triều cường, ô nhiễm môi trường… và gần đây nhất là đại dịch Covid-19. Thực trạng này đòi hỏi trong thời gian tới, khu vực phải xây dựng và định hình được các mô hình phát triển mới dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo (ĐMST), trong đó doanh nghiệp là trung tâm.
4 Chương trình phát triển vật lý đến năm 2020 : góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống / // .- 2021 .- Số 12(753) .- Tr. 38-40 .- 530
Trình bày Chương trình phát triển vật lý đến năm 2020, Chương trình đã đạt được những mục tiêu cơ bản: hình thành trung tâm nghiên cứu và đào tạo vật lý tiên tiến được quốc tế công nhận; đến năm 2020 vật lý nước ta được xếp vào trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên vật lý các trường đại học trong cả nước, thu hút và đào tạo các nhà vật lý trẻ tài năng… Có thể khẳng định, các bộ/ngành được giao thực hiện nhiệm vụ đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp. Nhờ đó, Chương trình đã có tác động lan tỏa đến các viện nghiên cứu, trường đại học có nghiên cứu, đào tạo vật lý trong cả nước, đặc biệt là có sự tham gia của các nhà khoa học vật lý là người Việt Nam ở nước ngoài.
5 Một số quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề bảo vệ chủ quyền vùng biển và hải đảo Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay / Nguyễn Thị Anh // Khoa học (Trường Đại học sư phạm Tp. Hồ Chí Minh) .- 2021 .- Tập 18 số 4 .- Tr. 669-681 .- 324.25970751
Bài viết phân tích một số quan điểm cuả Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo như: Khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, quản lý và bảo vệ vùng biển đảo. Phát triển kinh tế gắn liến với tăng cường quốc phòng – an ninh, giải quyết linh hoạt, khôn khéo tranh chấp trên vùng biển đảo, huy động sức mạnh toàn dân, hệ thống chính trị, phát huy mạnh mẽ vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia. Từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo tốt hơn trong thời gian tới.
6 Chương trình đào tạo giáo viên từ góc nhìn của sinh viên / Dương Thị Hồng Hiếu, Lê Thị Thu Liễu, Nguyễn Hoàng Thiện, Khuất Hữu Anh Tuyến // .- 2021 .- Tập 18 số 4 .- Tr. 690-703 .- 378
Bài viết tập trung tìm hiểu các đánh giá việc thực hiện các chương trình đào tạo giáo viên và các đề xuất nhằm cải tiến công tác này tại một trường đào tạo giáo viên ở Việt Nam – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh từ góc nhìn của sinh viên năm cuối. Kết quả đánh giá người học đạt được các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp ở mức tốt trở lên. Tuy nhiên năng lực tư vấn và hỗ trợ học sinh còn thấp so với các năng lực phẩm chất khác.
7 Thành phần hóa học của sinh khối của loài nấm Bipolaris maydis / Trần Thị Minh Định, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Dương Thúc Huy // .- 2021 .- Tập 18 số 6 .- Tr. 987-992 .- 660
Dữ liệu thành phần hóa học của Bipolaris maydis ít được nghiên cứu. Loài nấm này được phân lập từ Kandelia candel ba hợp chất cis-cyclo, melithasterol B, chrysophanol đã được phân lập từ sinh khối của loài nấm Bipolaris maydis bằng nhiều phương pháp phổ nghiệm NMR cũng như so sánh với dữ liệu đã công bố. Ba hợp chất trên lần đầu được phân lập từ chi Bipolaris.
8 Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn Bacillus sp. có khả năng sinh tổng hợp protease từ các sản phẩm đậu nành lên men / // .- 2021 .- Số 8(Tập 63) .- Tr. 49-54 .- 570
Nghiên cứu được thực hiện với mục đích phân lập và tuyển chọn các dòng vi khuẩn Bacillus sp. có khả năng sinh protease từ sản phẩm đậu nành lên men. Sử dụng phương pháp đo đường kính vòng thủy phân (halo) trên môi trường Skim milk agar (SMA) và lên men trong môi trường lỏng để đánh giá khả năng sinh protease. Protease là một trong những enzyme có nhiều ứng dụng trong ngành công nghiệp: thực phẩm, dược phẩm, xử lý chất thải…
9 Kết quả thực hiện Chiến lược tài chính đến năm 2020 và định hướng giai đoạn 2021-2030 / Nguyễn Như Quỳnh // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 758 .- Tr. 41-46 .- 332.1
Chiến lược tài chính đến năm 2020 đã đem lại những kết quả tích cực, góp phần hoàn thiện thể chế tài chính – ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường tiềm lực tài chính nhà nước và đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia... Bên cạnh các kết quả đạt được, cũng có một số hạn chế đòi hỏi Chiến lược tài chính giai đoạn 2021-2030 phải có những đột phá và đổi mới để tiếp tục phát huy vai trò của tài chính trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
10 Tác động tích cực từ xuất khẩu hàng hóa tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam / Đinh Thị Hải Phong, Nguyễn Thị Mai Phương // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 758 .- Tr. 47-49 .- 330
Bài báo sử dụng mô hình tự hồi quy có phân phối trễ trên bộ số liệu năm từ 1996 đến 2019, gồm GDP và giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, thu nhập từ nguồn Ngân hàng Thế giới để chỉ ra tác động cùng chiều của xuất khẩu hàng hóa lên tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Kết quả này khẳng định lý thuyết tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu đúng với trường hợp của Việt Nam. Cụ thể, trong ngắn hạn và trong giai đoạn nghiên cứu thì GDP năm trước tăng thì cũng kích thích GDP năm sau tiếp tục tăng. Đồng thời, giá trị xuất khẩu trong năm có đóng góp tích cực cho GDP năm đó. Ngoài ra, tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn tích cực giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.