Chuyển đổi kinh tế xanh đã và đang trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới trước tình trạng biển đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Việt Nam là quốc gia tham gia muộn hơn vào tiến trình chuyển đổi kinh tế xanh, do đó việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế về lĩnh vực này là cần thiết nhằm tìm ra các giải pháp có hiệu quả cao và hạn chế các rủi ro, thách thức. Bài viết phân tích chính sách pháp luật về chuyển đổi kinh tế xanh cùa một số quốc gia trên thế giới bao gồm Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Singapore, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng vào việc xây dựng các chính sách pháp luật về chuyển đổi kinh tế xanh ở Việt Nam trong tương lai.
Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới bất bình đẳng tiền lương ở Việt Nam, sử dụng dữ liệu bảng cho 63 tỉnh/thành phố trong giai đoạn 2010-2018. Kết quả thực nghiệm từ mô hình kinh tế lượng sử dụng ước lượng GMM hệ thống (Arellano & Bover, 1995) cho thấy FDI có xu hướng làm gia tăng bất bình đẳng tiền lương tại các địa phương. Kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng để đảm bảo phát triển bền vững, chính sách thu hút và sử dụng FDI cần được gắn kết với chính sách an sinh xã hội và giảm thiểu bất bình đẳng tiền lương; từ đó mà nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách để giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI đến bất bình đẳng tiền lương.
Người lao động phi chính thức ở Việt Nam thường có thu nhập thấp và không thường xuyên, giờ làm việc dài và không được bảo vệ bởi các thể chế của thị trường lao động, đặc biệt là chính sách bảo hiểm xã hội. Nhóm tác giả đã vận dụng lý thuyết hành vi dự định (TPB) để xây dựng mô hình nghiên cứu và tiến hành khảo sát 212 người lao động thuộc khu vực phi chính thức tại Việt Nam. Kết quả chỉ ra rằng có hai nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của khu vực phi chính thức gồm: chuẩn chủ quan và truyền thông về bảo hiểm xã hội tự nguyện. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm mở rộng khả năng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của khu vực phi chính thức tại Việt Nam thời gian tới.
Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2023-2024 và một số kiến thức, thực hành dinh dưỡng của bà mẹ chăm sóc trẻ. Phương pháp: Mô tả cắt ngang trên 142 trẻ và các bà mẹ chăm sóc trẻ tại khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi trung ương từ tháng 12/2023 đến tháng 04/2024. Kết quả: 19,7% trẻ SDD thấp còi, 17,6% trẻ SDD nhẹ cân, 11,9% trẻ SDD gầy còm, 3,5% trẻ thừa cân, béo phì. Theo SGNA: 35,9% trẻ SDD. Tỷ lệ thiếu máu là 37,32%. Về kiến thức: 66,19% bà mẹ cho rằng nên cho trẻ bú trong 1 giờ đầu sau sinh. Về thực hành, 32,39% bà mẹ cho con bú trong 1 giờ đầu sau sinh. 85,21% bà mẹ ủng hộ nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. 47,18% bà mẹ đãcho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức về cho trẻ ăn bổ sung đúng và thưc hành cho trẻ ăn bổ sung đúng thời điểm lần lượt là 96,48% và 83,33%. Kết luận: Tỷ lệ SDD của trẻ dưới 5 tuổi điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Trung ương khá cao. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức về NCBSM và ABS cao nhưng tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng còn thấp.
Nhận xét kết quả phẫu thuật nội soi u buồng trứng trên nhóm bệnh nhân có thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trong 5 năm từ 2019-2023. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 74 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi điều trị u buồng trứng trong quá trình mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ 1/1/2019 đến 31/12/2023. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 27,1 ± 4,0 tuổi. Có 74,3% trường hợp còn nhu cầu sinh đẻ và 35,1% có tiền sử vết mổ cũ. Tỉ lệ phẫu thuật nội soi bóc u buồng trứng đạt 77% với đa số được chỉ định phẫu thuật cấp cứu (74,3%), phần lớn có u buồng trứng xoắn, vỡ (70,3%). Tất cả bệnh nhân không có tai biến trong phẫu thuật, sau mổ ổn định và không có biến chứng. Thời gian nằm viện trung bình là 5,1 ± 2,0 ngày và 44,6% giải phẫu bệnh là u nang bì. Kết luận: Phẫu thuật nội soi điều trị u buồng trứng ở phụ nữ mang thai tương đối an toàn với tỉ lệ 100% bệnh nhân không có tai biến và biến chứng của phẫu thuật trong nghiên cứu của chúng tôi. Ở đối tượng bệnh nhân còn trẻ, phẫu thuật nội soi bóc u buồng trứng hay được lựa chọn hơn (77%). Chỉ định phẫu thuật cấp cứu có thể đặt ra với u buồng trứng xoắn, vỡ (74,3%).
Phân tích mối liên quan giữa một số chỉ số sinh hóa với thang điểm Albumin – Globulin (AGS). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả có phân tích trên 98 người bệnh mới chẩn đoán Đa u tủy xương (multiple myeloma, MM) giai đoạn 2022-2024 tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương. Kết quả: Người bệnh trong nghiên cứu có tuổi trung bình 64,7 và 44,9% là nam giới. Khác biệt giữa các nhóm điểm AGS về giới tính và tuổi của người bệnh không có ý nghĩa thống kê. Nồng độ albumin có xu hướng giảm theo thang điểm AGS (từ 41,5 xuống 27,8), trong khi nồng độ globulin tăng từ 29,2 lên 90,5 khi AGS lên cao (p < 0,05). Các chỉ số β2M, creatinin, calci và LDH không có sự khác biệt thống kê giữa các nhóm AGS. Mô hình hồi quy đa biến phụ thuộc vào các chỉ số sinh hóa không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Không có sự liên quan nào giữa tuổi và giới tính của người bệnh với điểm số AGS. Albumin tỉ lệ ngịch và globulin tỉ lệ thuận với điểm số AGS, các chỉ số β2M, creatinin, calci và LDH giống nhau giữa các nhóm điểm AGS.
Mô tả kết quả xử trí bệnh nhân tuyến cơ tử cung được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu số liệu 296 bệnh nhân bệnh tuyến cơ tử cung được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 1/1/2022 đến 31/12/2023. Kết quả: Bệnh tuyến cơ tử cung đơn thuần chiếm 65,5%; bệnh tuyến cơ tử cung và u cơ trơn chiếm 34,5%. Bệnh nhân được phẫu thuật nội soi chiếm tỷ lệ 74,7%; phẫu thuật mở, chiếm tỷ lệ 23,0%; phẫu thuật nội soi chuyển mổ mở 2,3%. Tai biến chảy máu gặp phải trong mổ là 2,7% và 1 trường hợp thủng ruột non, chiếm tỷ lệ 0,4%. Tỷ lệ phải truyền máu sau phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 27,0%. Tỷ lệ thành công là 97,3%. Có 08 trường hợp thất bại (bao gồm 07 trường hợp chảy máu và 01 trường hợp thủng ruột non) chiếm tỷ lệ 2,7%. Phương pháp xử trí có liên quan đến số ngày nằm viện (p<0,05). Tỷ lệ điều trị thành công ở nhóm bệnh tuyến cơ tử cung đơn thuần là 98,9% cao hơn so với nhóm bệnh tuyến cơ tử cung và u cơ trơn với 94,1% (p<0,05). Kết luận: Phương pháp cắt bỏ tử cung là phương pháp điều trị dứt điểm duy nhất cho những bệnh nhân bị bệnh tuyến cơ tử cung đã hoàn tất quá trình sinh con. Kết quả điều trị có liên quan đến phân loại nhóm bệnh. Tuy vậy, chưa có trường hợp nào trong nghiên cứu được phẫu thuật bảo tồn tử cung.
Ung thư tuyến giáp biệt hóa trên nền viêm giáp Hashimoto gây nhiều biến đổi về giải phẫu, mô học, và chức năng tuyến giáp gây ra nhiều thách thức trong phẫu thuật bảo tồn tuyến giáp. Mục tiêu đánh giá các đặc điểm bệnh học ảnh hưởng đến quyết định phẫu thuật bảo tồn tuyến giáp Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 39 bệnh nhân có khối ung thư < 2 cm trên nền viêm giáp Hashimoto được phẫu thuật cắt thùy ± nạo hạch trung tâm từ tháng 5/2023 – tháng 5/2024 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Kết quả: Phần lớn bệnh nhân là nữ giới ở độ tuối trung niên (38,2 ± 8,9 tuổi), với tiền sử viêm giáp mạn tính từ 3 năm chiếm đa số, anti-TPO dương tính 97,4% bệnh nhân, 87,2% chẩn đoán với khối u >1cm và 89,7% xuất hiện hạch nghi ngờ trên siêu âm, tuy nhiên chỉ 2,6% có kết quả FNA hạch di căn. Cắt thùy tuyến giáp + nạo hạch trung tâm là phương pháp điều trị chính, với ung thư tuyến giáp thể nhú chiếm 100%, hạch di căn 23,5%. Biến chứng sau mổ duy nhất là khàn tiếng với 10% bệnh nhân bị ảnh hưởng. Khám lại sau 3 tháng không phát hiện tái phát, di căn, chỉ hơn 64,1% đạt mục tiêu điều trị bình giáp sau phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật bảo tồn điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa trên nền viêm giáp Hashimoto có nhiều thách thức cần giải quyết, nhưng là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị giai đoạn sớm của bệnh.
Nghiên cứu mô tả kết quả trên lâm sàng và CBCT của phẫu thuật tạo hình nướu màng xương trong điều trị khe hở xương ổ răng một bên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả lâm sàng, tiến cứu trên 28 bệnh nhân (BN) có khe hở xương ở răng một bên được theo dõi lâm sàng trước và sau phẫu thuật 1 ngày, 1 tháng, 6 tháng và chụp CBCT trước và sau phẫu thuật 6 tháng. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 5,7 ± 0,9 tuổi, trong đó có 18 (64,3%) BN là nam, 20 (71,4%) BN có KHXOR bên trái, 18 (64,3% ) BN có KHXOR liên quan KHVM toàn bộ đã phẫu thuật và có 16 (57,1%) BN có răng nằm trong khe hở. Thời gian thực hiện phẫu thuật có trung vị là 41,5 phút và khoảng tứ phân vị là 37 phút – 53 phút. Sau phẫu thuật 6 tháng, 100% các BN đạt từ điểm 5 trở lên tương ứng với loại khá, tốt và rất tốt về khía cạnh lâm sàng, thể tích KHXOR giảm 225,9 ± 36,0 mm3 thể tích KHXOR và 32,1% BN có tạo cầu xương qua khe hở. Kết luận: Phẫu thuật tạo hình nướu màng xương thực hiện cho BN KHXOR một bên ở độ tuổi 5-7 tuổi bước đầu cho kết quả tốt trên lâm sàng và trên CBCT.