CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Bảo vệ dữ liệu cá nhân bằng biện pháp tố tụng dân sự ờ Việt Nam hiện nay / Trần Phương Thảo // Luật học .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 39-46 .- 340
Trước tác động mạnh mẽ của kỉ nguyên số như hiện nay, nhu cầu bảo vệ dữ liệu cả nhân là rất cấp thiết. Bài viết nghiên cứu về bảo vệ dữ liệu cá nhân bằng biện pháp tố tụng dân sự. Trên cơ sở xác định, đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo vệ dữ liệu cá nhân, bài viết đưa ra một số vấn đề như cần hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc, thẩm quyền của tòa án chứng cứ là dữ liệu điện tử đến việc bảo vệ dữ liệu cá nhân bằng biện pháp tổ tụng dân sự đạt được hiệu quả cao hơn.
2 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, giá trị chung và phát triển bền vững : nghiên cứu tổng hợp lý thuyết và thảo luận khoảng trống nghiên cứu / Nguyễn Phạm Hải Hà, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trương Quang Dũng // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 337 .- Tr. 36-47 .- 330
Nghiên cứu này xác định rõ các mối quan hệ lý thuyết đã được chứng minh, các khoảng trống học thuật quan trọng và đề xuất các hướng nghiên cứu mới, nhằm hỗ trợ việc xây dựng mô hình tích hợp CSR–CSV–SDGs phù hợp với bối cảnh Việt Nam và các nền kinh tế đang phát triển.
3 Ứng dụng giải mã gen để lựa chọn dinh dưỡng chăm sóc sức khỏe chủ động / // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 69 - 73 .- 610
Nghiên cứu nhằm làm rõ mối liên hệ giữa gen và dinh dưỡng từ đó lựa chọn chế độ ăn uống và vận dụng chủ động chăm sóc sức khỏe chủ động ngay từ các khi khỏe mạnh chưa mắc bệnh. Phương pháp tìm kiếm và tổng quan tài liệu: Tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố về mối liên hệ giữa gen và dinh dưỡng, di truyền liên quan đến các chỉ số sức khỏe như BMI, khả năng tiêu hóa, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, béo phì, bệnh tim mạch. Kết quả: Giải mã gen giúp xác định cách cơ thể mỗi người phản ứng với thực phẩm, từ khả năng tiêu hóa đến nguy cơ mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, béo phì và bệnh tim mạch. Các nghiên cứu cho thấy những người điều chỉnh chế độ ăn theo thông tin di truyền có thể giảm nguy cơ bệnh tật. Kết luận: Việc ứng dụng giải mã gen trong chế độ dinh dưỡng nhấn mạnh vai trò của giải mã gen trong việc cá nhân hóa chế độ ăn uống để chăm sóc sức khỏe chủ động.
4 Chính sách pháp luật về chuyển đổi kinh tế xanh của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam / Trần Thế Nghĩa // Luật học .- 2025 .- Số 4 .- Tr. 66-81 .- 340
Chuyển đổi kinh tế xanh đã và đang trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới trước tình trạng biển đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Việt Nam là quốc gia tham gia muộn hơn vào tiến trình chuyển đổi kinh tế xanh, do đó việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế về lĩnh vực này là cần thiết nhằm tìm ra các giải pháp có hiệu quả cao và hạn chế các rủi ro, thách thức. Bài viết phân tích chính sách pháp luật về chuyển đổi kinh tế xanh cùa một số quốc gia trên thế giới bao gồm Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Singapore, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để áp dụng vào việc xây dựng các chính sách pháp luật về chuyển đổi kinh tế xanh ở Việt Nam trong tương lai.
5 Xác định sai lệch tỷ giá bằng mô hình ngang bằng sức mua và mô hình tỷ giá cân bằng hành vi tại Việt Nam / Nguyễn Ngọc Đính // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 303 .- Tr. 14-23 .- 658
Bài viết này nhằm mục đích chỉ ra sự sai lệch của tỷ giá thực hữu hiệu tại Việt Nam thông qua mô hình tỷ giá cân bằng hành vi và ngang bằng sức mua.
6 Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng tiền lương giữa lao động có kỹ năng và ít kỹ năng tại Việt Nam / Đỗ Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Thu Thủy // Kinh tế & phát triển .- 2022 .- Số 303 .- Tr. 24-31 .- 658
Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới bất bình đẳng tiền lương ở Việt Nam, sử dụng dữ liệu bảng cho 63 tỉnh/thành phố trong giai đoạn 2010-2018. Kết quả thực nghiệm từ mô hình kinh tế lượng sử dụng ước lượng GMM hệ thống (Arellano & Bover, 1995) cho thấy FDI có xu hướng làm gia tăng bất bình đẳng tiền lương tại các địa phương. Kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng để đảm bảo phát triển bền vững, chính sách thu hút và sử dụng FDI cần được gắn kết với chính sách an sinh xã hội và giảm thiểu bất bình đẳng tiền lương; từ đó mà nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách để giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI đến bất bình đẳng tiền lương.
7 Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam : vai trò của tỷ lệ an toàn vốn / Nguyễn Thị Mỹ Linh // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 334 .- Tr. 104-112 .- 332.024
Phân tích vai trò của tỷ lệ an toàn vốn đến tác động của tăng trưởng tín dụng lên rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam bằng cách sử dụng thuật toán mô phỏng Bayes đối với mẫu gồm 24 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2023. Kết quả cho thấy tăng trưởng tín dụng làm tăng rủi ro tín dụng. Tuy vậy, tương tác giữa tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ an toàn vốn làm giảm rủi ro. Điều này cho thấy tỷ lệ an toàn vốn có vai trò điều tiết làm giảm rủi ro tín dụng trong quá trình ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm có ý nghĩa đối với các nhà lập chính sách, nhà quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao tính ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại ngân hàng thương mại Việt Nam bằng cách nâng cao hiệu quả quản lý tỷ lệ an toàn vốn.
8 Tác động của độ mở kinh tế đến rủi ro ngân hàng thương mại Việt Nam : Vai trò của kiểm soát tham nhũng / Trần Thị Phương Thanh, Nguyễn Trần Phúc // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 334 .- Tr. 94 - 103 .- 332.024
Bài nghiên cứu kiểm định tác động của độ mở kinh tế, bao gồm độ mở tài chính và độ mở thương mại, đến rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2023. Đồng thời, tác giả cũng xem xét vai trò của kiểm soát tham nhũng trong tác động của mở cửa kinh tế đến rủi ro của các ngân hàng. Kết quả hồi quy từ phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) và mô hình mô men tổng quát (SGMM) cho thấy mở cửa kinh tế làm tăng rủi ro cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu vấn đề tham nhũng được kiểm soát tốt sẽ góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đến rủi ro ngân hàng.
9 Tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng Việt Nam : tiếp cận dựa trên phân tích hồi quy phân vị / Phan Thị Hằng Nga, Vũ Nguyễn Anh Tuấn, Thái Nguyễn Thiên Kim // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 334 .- Tr. 83-93 .- 658
Bài nghiên cứu xem xét tác động lan tỏa của chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2010-2022. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy phân vị để xem xét mức độ lan tỏa của chuyển đổi số theo quy mô của ngân hàng. Hiệu quả kinh doanh được đo bằng ROA và ROE; chuyển đổi số được đo qua mức độ phát triển ICT, đầu tư phần cứng và phần mềm. Nghiên cứu phân tích tác động của chuyển đổi số đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM ở các phân vị 0,1; 0,25; 0,5; 0,75 và 0,9. Kết quả cho thấy tác động lan tỏa của chuyển đổi số mạnh nhất ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ (phân vị 0,1), giảm dần ở các phân vị cao hơn, và thấp nhất tại phân vị 0,5 và 0,75. Từ đó, nghiên cứu đề xuất: ưu tiên tăng đầu tư chuyển đổi số cho NHTM quy mô nhỏ; khai thác hiệu quả các công nghệ đã đầu tư đối với nhóm trung bình; và tập trung đầu tư đột phá cho các ngân hàng quy mô lớn.
10 Hiệu quả tài chính của các công ty sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và một số hàm ý quản trị / Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Văn Chiến // Kinh tế & phát triển .- 2025 .- Số 334 .- Tr. 62-72 .- 332.6409597
Bài viết này nghiên cứu về hiệu quả tài chính của các công ty sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu của 274 doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán giai đoạn 2012-2022, sử dụng phương pháp FGLS để xử lý các khuyết tật hồi quy và GMM để kiểm soát hiện tượng nội sinh. Kết quả cho thấy quy mô hội đồng quản trị, quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu và tuổi doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính, chưa tìm thấy bằng chứng về sự tác động của các yếu tố bên ngoài như tăng trưởng GDP và lạm phát đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.