Mô tả đặc điểm hình ảnh và kết quả điều trị lấy huyết khối cơ học ở bệnh nhân nhồi máu não cấp do tắc đoạn M2 động mạch não giữa. Hiệu quả của can thiệp lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học điều trị nhồi máu não cấp do tắc đoạn lớn đã được đề cập như động mạch cảnh trong, động mạch thân nền, động mạch não sau. Trong đó tỉ lệ mắc đoạn M1 động mạch não giữa luôn chiếm số lượng lớn nhưng với tắc đoạn M2 động mạch não giữa được thống kê với số lượng còn khiêm tốn. Yếu tố đến viện sớm trong vòng 3 giờ đầu và điểm NIHSS ảnh hưởng đến khả năng phục hồi lâm sàng tốt sau 3 tháng. Điều trị lấy huyết khối cơ học có hiệu quả trong điều trị nhồi máu não cấp do tắc đoạn M2 của động mạch não giữa.
Nghiên cứu nhằm xác định nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình và mối liên quan bụi mịn PM2.5 và kết quả sinh con nhẹ cân tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM) năm 2020. Tiếp xúc với ô nhiễm không khí xung quanh trong thời kỳ mang thai có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Theo các kết quả của nghiên cứu dịch tễ học còn cho thấy mối liên quan giữa phơi nhiễm ô nhiễm không khí trước khi sinh và kết quả bất lợi, bao gồm: sinh non, nhẹ cân, mang thai và chậm phát triển phôi thai. Các chất ô nhiễm không khí có thể là một phần của một loạt các yếu tố phức tạp làm tăng nguy cơ sinh non hoặc nhẹ cân thông qua các quá trình liên quan đến viêm, oxy hóa, rối loạn nội tiết và suy giảm vận chuyển oxy qua nhau thai. Nghiên cứu cho thấy rằng tiếp xúc nồng độ PM2.5cao trong thai kỳ của bà mẹ là một yếu tố nguy cơ dẫn đến nguy cơ sinh con nhẹ cân đủ tháng với OR là 1,01. Cần có những biện pháp giảm thiểu tác hại và ô nhiễm bụi mịn PM2.5 tại Tp. HCM.
Nhằm khảo sát mức độ và những yếu tố liên quan tới chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của trẻ bị động kinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn phu huynh và xem xét hồ sơ y tế. Chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe tổng quát được đánh giá bằng Pediatric Quality of Life Inventory TM 4.0 Generic Core Scale phiên bản tiếng Việt. Các yếu tố liên quan làm giảm chất lượng cuộc sống của trẻ bị động kinh bao gồm tình trạng học tập hiện tại, tuổi khởi phát, thời gian bị bệnh, số thuốc chống động kinh, tần suất điều trị nội trú, thời gian nằm viện, đáp ứng điều trị, học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ. Nhận thức được điều này sẽ hãu ích cho các nhà chuyên khoa trong việc điều trị bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ bị động kinh.
Nghiên cứu nhằm đánh giá giá trị của trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần tối thiểu (MMSE) trong sàng lọc sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng. Kết quả cho thấy diện tích dưới đường cong ROC của trắc nghiệm MMSE là 0,89. Điểm cắt tối ưu để chẩn đoán sa sút trí tuệ dựa vào trắc nghiệm MMSE là 19/20 với độ nhạy 0,75 và độ đặc hiệu 0,93. Tại điểm cắt 23/24, trắc nghiệm MMSE có độ nhạy, và độ đặc hiệu lần lượt là 0,88 và 0,72 với 32,4% người cao tuổi có khả năng mắc sa sút trí tuệ. Tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ theo tiêu chuẩn DSM – 5 là 7,2%. MMSE có giá trị cao trong sàng lọc sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng ở Việt Nam với ngưỡng điểm 23/24.
Nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức, thực hành phòng lây nhiễm viêm gan B của người bệnh mới vào điều trị tại khoa nghiên cứu và điều trị viêm gan, Bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả nghiên cứu cho thấy người bệnh có kiến thức đạt về phòng lây nhiễm virus viêm gan B là 48,1% và thực hành đạt 37,2%. Người bệnh có kiến thức đạt thì có thực hành về phòng lây nhiễm virus viêm gan B đạt cao gấp 2,6 lần so với người có kiến thức không đạt. Kiến thức và thực hành dự phòng virus viêm gan B có mối liên quan chặt với người bệnh từ tỉnh khác ngoài thành phố Hồ Chí Minh, trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp và thu nhập của người bệnh. Nghiên cứu khuyến nghị khoa Viêm gan của bệnh viện xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác tư vấn phòng chống lây nhiễm virus viêm gan B cho toàn bộ người bệnh, chú trọng tư vấn về chế độ dinh dưỡng, đường lây, về xét nghiệm và tiêm phòng vắc xin.
Bài viết đánh giá kết quả phát triển nhanh và bền vững tại Việt Nam trong giai đoạn 1990 - 2020. Nội hàm của phát triển nhanh và bền vững được tiếp cận bằng cách kết hợp tăng trưởng nhanh theo thời gian với phát triển bền vững yếu. Cách tiếp cận này được hỗ trợ bởi phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng, với một mô hình vector tự hồi quy cho giai đoạn từ quý II/2008 đến quý II/2021. Bằng chứng thực nghiệm ghi nhận rằng, Việt Nam đã đạt được phát triển nhanh và bền vững trong thời gian vừa qua, tốc độ tăng trưởng thực tế bình quân đang cao hơn so với tốc độ tăng trưởng dài hạn, tỷ lệ tiết kiệm lõi luôn dương, phân phối thu nhập ổn định và tỷ lệ che phủ rừng cải thiện theo tời gian. Tuy nhiên, các kết quả này đang đi kèm với tỷ lệ tiết kiệm lõi suy giảm và bất bình đẳng phân phối thu nhập chậm được cải thiện. Từ đó, bài viết đưa ra một số hàm ý chính sách để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.
Trình bày mối liên quan giữa đa hình đơn gen IL-17F RS763780, IL-17RA RS4819554 và HLA-CW6 trên bệnh vảy nến thông thường ở Việt Nam. Vảy nến là một bệnh lý viêm mạn tính, tái phát, thường gặp trong da liễu. Vảy nến không chỉ gây tổn thương da mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống người bệnh, gồm 3 yếu tố tác động: di truyền, miễn dịch, môi trường, tuy nhiên, phức hợp này biểu hiện nhiều thể lâm sàng, tiên lượng và bệnh đồng mắc khác nhau giữa mỗi bệnh nhân. Kết quả cho thấy có sự phân bố các genotype khác nhau trên mỗi vị trí khác nhau. Gen IL-17F đoạn rs763780 có tỉ lệ AA cao nhất trên nhóm bệnh nhân vảy nến chiếm 58,7%. GA chiếm 38,0%. Gen IL-17RA đoạn rs4819554 genotype GA có tỉ lệ là 53,7% và AA là 27,3%. Tuy nhiên, có mối liên quan giữa IL-17F RS763780 lại có mối liên quan với độ nặng của bệnh.
Nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả giảm đau và tác dụng không mong muốn của phương pháp giảm đau do bệnh nhân tự điều khiển với morphine và pethidine sau phẫu thuật tim hở. Nghiên cứu chỉ ra rằng PCA tĩnh mạch với morphine và pethidine kiểm soát được đau sau phẫu thuật tim hở, trong đó pethidine có điểm số đau sau khi nghỉ thấp hơn so với morphine. Tỷ lệ tác dụng không mong muốn như nôn, buồn nôn, bí tiểu của 2 nhóm là tương đương nhau. Tỷ lệ ở nhóm morphine là 40%, nhóm pethidine là 0%. Pethidine ít ảnh hưởng đến an thần hơn so với morphine tuy nhiên cả 2 nhóm đều không ghi nhận bất kỳ biến chứng nguy hiểm nào như suy hô hấp, an thần quá mức.
Giáo dục đại học không chỉ góp phần đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, mà còn góp phần giải quyết một số vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, giáo dục đại học chưa thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng theo chiều sâu, sự gắn kết giữa giáo dục đại học với doanh nghiệp trong phối hợp nghiên cứu, giảng dạy còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu đưa ra hai nhóm khuyến nghị nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2025 trên cơ sở thúc đẩy sự liên kết giữa giáo dục đại học và phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Cụ thể phát triển giáo dục đại học tinh hoa, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu; thúc đẩy gắn kết giáo dục đại học với doanh nghiệp và thị trường lao động.
Nghiên cứu sử dụng số liệu khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2018 để ước lượng tác động của đa dạng hóa dư đến lao động ở Việt Nam. Chỉ số đa dạng hóa di cư được tính toán dựa trên chỉ số Herfindahl Hirshman đã được sử dụng ở các nghiên cứu trước đây. Kết quả ước lượng cho thấy, người lao động sống ở những tỉnh có chỉ số đa dạng hóa di cư cao thì kiếm được mức tiền lương cao hơn so với người lao động sống ở những tỉnh có chỉ số đa dạng di cư thấp. Tương tự, chỉ số đa dạng hóa di cư làm tăng cơ hội cho người lao động được ký hợp đồng lao động, được doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội và được hưởng lương ngày lễ. Phát hiện của nghiên cứu này gợi ý rằng, việc hạn chế di cư thông qua đăng ký hộ khẩu là chính sách cản trở phát triển kinh tế và việc loại bỏ hộ khẩu hoặc đơn giản hóa thủ tục đăng ký hộ khẩu cần thiết.