Trình bày tổng quan về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp và tình hình phát triển nông nghiệp tuần hoàn tại Hải Phòng dựa trên các điều kiện và thực trạng, từ đó tìm ra những khó khăn và vướng mắc còn tồn tại. Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị nhằm đẩy mạnh ứng dụng mô hình sản xuất này trong thời gian tới.
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng chống đông của viên hoàn trân châu ngưu hoàng hoàn trên thực nghiệm. Đông máu là quá trình máu chuyển từ thể lỏng thành thể đặc do sự chuyển fibrinogen thành fibrin không hòa tan. Các sợi fibrin trùng hợp tạo thành mạng lưới giam các thành phần của máu, làm máu đông lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác dụng chống đông phụ thuộc liều của Trân châu ngưu hoàng hoàn thể hiện thông qua việc tăng số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen, đồng thời kéo dài PT và aPTT. Như vậy, Trân châu ngưu hoàng hoàn có tác dụng chống đông trên mô hình gây đông máu bằng lipopolysaccharid ở chuột cống trắng.
Nghiên cứu trình bày báo cáo ca bệnh về hội chứng sốc Kawasaki. Kawasaki là bệnh sốt, viêm mạch máu lan tỏa cấp tính ở trẻ gây tổn thương chủ yếu là các mạch máu trung bình và nhỏ, trong đó quan trọng nhất là tổn thương động mạch vành. Hội chứng sốc Kawasaki là tình trạng bệnh Kawasaki nặng có rối loạn huyết động, hiếm gặp và thường xảy ra trong giai đoạn sớm. Bệnh có tỉ lệ kháng Immunoglobulin và biến chứng phình giãn động mạch vành cao hơn so với nhóm Kawasaki không rối loạn huyết động. Ngoài việc loại trừ các nguyên nhân sốc thường gặp khác, chúng ta phải nhận biết được và sớm đặt ra chẩn đoán hội chứng sốc Kawasaki để có biện pháp điều trị kịp thời nhằm hạn chế các biến chứng và giảm nguy cơ tử vong.
Nghiên cứu trình bày báo cáo ca bệnh viêm gan tự miễn khởi phát sau nhiễm Epstein-Barr virus. Epstein-Barr virus (EBV) là một nguyên nhân gây viêm gan, mức độ viêm gan thường nhẹ và thoáng qua. Ở trẻ nhiễm EBV mà có biểu hiện viêm gan kéo dài cần loại trừ viêm gan do các căn nguyên khác. Khi xuất hiện các tự kháng thể đặc hiệu với viêm gan tự miễn nên cân nhắc sinh thiết gan và phối hợp các xét nghiệm để chẩn đoán viêm gan tự miễn.
Nghiên cứu trình bày báo cáo 1 ca phẫu thuật bảo tồn vật liệu độn mông sau nhiễm trùng khoang đặt túi. Phương pháp điều trị thông thường đối với các trường hợp nhiễm trùng sau đặt vật liệu độn mông là sử dụng liệu pháp kháng sinh và phẫu thuật lấy bỏ vật liệu càng sớm càng tốt. Kết quả sau mổ bệnh nhân hết sốt, vết mổ liền tốt. Sau 8 tháng, hai mông hoàn toàn ổn định, không có biểu hiện nhiễm trùng tái phát, siêu âm không thấy tụ dịch. Phối hợp liệu pháp kháng sinh và phẫu thuật bảo tồn túi độn là khả thi và có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, để có kết luận chính xác cần thời gian theo dõi dài hơn và trên số lượng lớn ca lâm sàng.
Tác giả tập trung phân tích thực trạng thị trường và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ.
Bài báo này có đề cập đến quản lý nợ xấu trên góc độ hẹp tại một chi nhánh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về các nội dung như tín dụng và rủi ro tín dụng, nợ xấu và quản lý nợ xấu, thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại một chi nhánh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Nghiên cứu trình bày báo cáo 1 ca biến chứng sau tiêm làm đầy ngực polyacrylamide. Polyacrylamide hydrogel (PAAG) là một dạng chất làm đầy tồn tại vĩnh viễn, được tiêm vào ngực giúp điều chỉnh hình dạng và tăng thể tích. Thủ thuật được thực hiện dưới gây tê cục bộ, PAAG được đưa vào thông qua đường rạch nhỏ ở nếp lằn vú hoặc ở cực trên ngoài. PAAG là một chất làm đầy không phân hủy sinh học tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm khi dùng để nâng ngực, do đó có thể gây ra tổn thương tuyến vú không hồi phục. Một khi xảy ra biến chứng, phẫu thuật loại bỏ dị vật và lấy bỏ tổ chức tổn thương tối đa là phương pháp điều trị nhanh gọn, hiệu quả.
Bài viết định nghĩa một cách ngắn gọn dễ hiểu khái niệm hàm số, các hàm số kinh tế thường gặp và đề xuất một số hàm số kinh tế về giá trị xuất khẩu của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005Q2-2019Q4. Tác giả phân tích các mối quan hệ cả về mặt định tính và định lượng giữa các biến kinh tế khác với biến giá trị xuất khẩu và của chính biến giá trị xuất khẩu kỳ trước đến kỳ nghiên cứu trong nền kinh tế.