Nhằm phát hiện đa hình liên quan tới vô sinh nam ở trên gen NR5A1 ở quần thể người Việt Nam bao gồm 202 bệnh nhân và 199 người khỏe mạnh. Vô sinh nam là vấn đề sinh sản ở nam giới có liên quan tới sự thiếu hụt về số lượng hoặc chất lượng của tinh trùng. Bên cạnh các yếu tố ngoại cảnh như các thói quen có hại cho sức khỏe, ô nhiễm; các yếu tố di truyền bao gồm rối loạn ở gen đơn, nhóm gen hoặc nhiễm sắc thể là nguyên nhân gây ra vô sinh ở nam giới. NR5A1 được biết đến như là một gen liên quan tới bệnh vô sinh nam gồm các loại như rối loạn phát triển giới tính ở nam giới có bộ nhiễm sắc thể 46 XY, tinh hoàn ẩn, dương vật nhỏ, suy sinh tinh, vô sinh không bế tắc, và vô sinh ít tinh trùng.
Nhằm khảo sát khả năng tái mã hóa thành tế bào nguyên bào sợi của người thành tế bào giống tế bào gan bằng biểu hiện quá mức HNF4α. Tế bào nguyên bào sợi được phân lập và nhân nuôi từ mô da bao quy đầu của bệnh nhân khỏe mạnh hiến tặng. Gen HNF4α được biểu hiện quá mức thông qua hoạt hóa bằng Doxycilin vector biểu hiện gen Tet.on-eGFP-HNF4α. Tế bào sau quá trình xử lý tái mã hóa được đánh giá sự thay đổi hình thái, biểu hiện các protein đặc trưng tế bào gan như: albumin, α-fetoprotein (AFP) và HNF4α sau khi nhuộm miễn dịch huỳnh quang và khả năng tích lỹ glycogen trong tế bào bằng phương pháp nhuộm PAS. Nghiên cứu đã phân lập và nhân nuôi thành công tế bào nguyên bào sợi.
Trình bày nghiên cứu tổ hợp desgalactotigonin với các tiểu phần nanoliposome và đánh giá hoạt tính ức chế sáu dòng tế bào ung thư in vitro. Ung thư là căn bệnh nan y và gây tỉ lệ tử vong rất cao, trong khi chưa có thuốc chữa trị hiệu quả. Do vậy, việc tìm kiếm và phát triển những loại thuốc mới, hiệu quả, ít tác dụng và hướng đích tới các tế bào ung thư hiện đang rất được quan tâm. Desgalactotigonin (DGT) phân lập từ cây Lu bu đực (Solanum nigrum) đã cho thấy hoạt tính tiềm năng ức chế sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư khác nhau. Tuy nhiên, giống như nhiều hợp chất thiên nhiên khác, DGT cho thấy tính tan kém, độc tính mạnh. Nhằm tăng cường tính sinh khả dụng của hoạt chất DGT, một phương thức hiệu quả là tích hợp vào các tiểu phần nanoliposome. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt tính ức chế tế bào ung thư của tổ hợp DGT-nanoliposome giảm nhẹ so với dạng không tổ hợp, phản ánh khả năng giải phóng thuốc khỏi liposome chậm hơn và có thể do tế bào hấp thụ tổ hợp thuốc chậm hơn so với hoạt chất dạng tự do khi nuôi cấy ở dạng đơn lớp.
Nhằm trình bày các kết quả nghiên cứu tinh chế và đánh giá hoạt tính của enterokinase chuỗi nhẹ tái tổ hợp. Enterokinase là một serine protease trong đó chuỗi nhẹ chứa vùng xúc tác có khả năng nhận biết và cắt đặc hiệu đoạn trình tự peptide nên thường được ứng dụng nhiều nhất trong nghiên cứu để cắt đoạn protein dung hợp trong chuỗi polypeptide giải phóng protein đích. Protein không tan đã được tái cấu trúc với phương pháp biến tính bằng guanidin và được tái cuộn gập trong các đệm phù hợp. Kết quả xác định hoạt tính enterokinase sử dụng cơ chất là protein dung hợp Trx-FliC đạt là 230 unit/µg, giá trị này tính tương đương với hoạt tính enterokinase của hãng Invitrogen. Kết quả này là cơ sở để ứng dụng enterokinase tái tổ hợp này trong nghiên cứu sản xuất protein tái tổ hợp.
Trình bày phân tích liên kết toàn hệ gen về khả năng hấp thụ phosphate trong điều kiện tự nhiên ở các giống lúa bản địa của Việt Nam. Phốt pho là một trong ba nguyên tố dinh dưỡng đa lượng bậc nhất đối với quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón Phosphate (Pi) gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng đất, nước, đồng thời làm cạn kiệt nguồn cung cấp Pi ở các mỏ tự nhiên. Điều này đã thúc đẩy những nghiên cứu chuyên sâu về chu trình Pi và cách tận dụng tối đa nguồn Pi trong đất đối với cây lúa. Nghiên cứu GWAS đã tìm được 19 đa hình đơn nucleotide (SNP), 9 tính trạng số lượng (QTL)và 22 gen ứng viên tiềm năng tham gia vào quá trình hấp thụ tự nhiên nguồn Pi ở cây lúa. Việc tìm ra những QTL và gen này có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo các giống lúa mới có khả năng hấp thụ Pi cao – là giải pháp tiềm năng cho vấn đề an ninh lương thực.
Nghiên cứu peptide tổng hợp sử dụng nhằm tạo kháng thể đặc hiệu kháng protein P10 của virus lùn sọc đen phương Nam. Bệnh lúa lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV) đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho các vùng trồng lúa miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Trong khi các phương pháp chẩn đoán SRBSDV chính xác dựa trên RT-PCR khó có thể áp dụng đại trà ở các cơ sở địa phương do sự phức tạp về mặt kỹ thuật. Các phương pháp chẩn đoán SRBSDV dựa trên kỹ thuật kháng nguyên-kháng thể đơn giản và dễ dàng triển khai rộng rãi vẫn chưa được phát triển ở Việt Nam. Kháng thể đa dòng kháng đặc hiệu SRBSDV được tạo ra từ kháng nguyên là đoạn peptide giàu tính kháng nguyên có nguồn gốc từ protein vỏ P10 của SRBSDV và bảo thủ ở các nòi SRBSDV của Việt Nam. Kháng thể tinh sạch thu được liên kết đặc hiệu với protein P10 ở nồng độ kháng thể pha loãng 1:40000 và phát hiện được sự có mặt của SRBSDV trong mẫu lúa nhiễm bệnh lùn sọc đen bằng kỹ thuật Dot-ELISA. Kết quả nghiên cứu mở ra cơ hội mới để phát triển bộ kit chẩn đoán nhanh SRBSDV dạng màng ở Việt Nam.
Nhằm tiến hành tinh sạch xylanase và tái tổ hợp để so sánh sự khác nhau về sản phẩm thủy phân giữa enzyme tự nhiên và tái tổ hợp. Hệ enzyme thủy phân arabinoxylan rất phong phú và đa dạng, trong đó là endo-1, 4- β -xylanase là nhóm enzyme quan trọng nhất, tác động ngẫu nhiên vào mạch chính của khung xylan và giải phóng ra các arabinoxylan oligosacaride như các loại đường D-xylobiose, L-arabinose, xylotetraose, xylopentose. Nhóm enzyme này dễ dàng dễ dàng được sản xuất từ các chủng vi sinh vật tự nhiên như vi khuẩn, nấm men, nấm sợi và cũng được nghiên cứu sử dụng công nghệ tái tổ hợp để chuyển gene vào các vật chủ thích hợp nhằm chủ động về chủng giống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, xylanase tinh sạch từ các nguồn khác nhau rất ổn định, có tính đặc hiệu cao với cơ chất xylan. Xylanase có tiềm năng ứng dụng tạo các sản phẩm công nghệ sinh học chất lượng cao.
Nhằm đánh giá tính ổn định của dung dịch nano bạc bằng phương pháp phân tích phổ hấp thụ UV-Vis và khả năng kháng khuẩn trên escherichia coli và satphylococus aureus. Nhờ tính kháng khuẩn mạnh mà nano bạc đã được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực của đời sống. Ngày nay, các phương pháp tổng hợp “xanh” tạo hạt nano kim loại đang được quan tâm bởi sự phát triển của các ngành công nghệ thân thiện với môi trường. Ở nghiên cứu trước đây, các mẫu nano bạc đã được tổng hợp thành công bởi tác nhân khử hóa trong dung dịch gelatin (Ag/Gelatin) gelatin/chitosan (Ag/Gelatin/Chitosan) và chitosan (Ag/Chitosan). Tuy nhiên, để nano bạc được ứng dụng sâu hơn trong thực tiễn thì tính ổn định của dung dịch nano vẫn là một trong những thách thức đang được đặt ra. Chính vì vậy, các mẫu nano được tiến hành đánh giá độ ổn định thông qua phổ hấp phụ UV-Vis và khả năng kháng khuẩn trên chủng vi khuẩn Escherichia coli và Staphylococcus aureus. Kết quả nghiên cứu cho thấy nano bạc được tổng hợp trong gelatin/chitosan có tính ổn định và hiệu quả kháng khuẩn tốt có tiềm năng ứng dụng lớn trong thực tiễn.
Trình bày nghiên cứu điều chế chito-oligosaccharide kháng Fusarium oxysporum bằng enzyme thủy phân chitin/chitosan từ xạ khuẩn. Chito-oligosaccharide (COS), một trong những dẫn xuất đáng chú ý của chitosan, không những có được hầu hết những hoạt tính sinh học của chitosan mà còn vượt trội ở một số đặc tính như hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, kích kháng thực vật… Phương pháp điều chế COS theo con đường sinh học bằng cách sử dụng enzyme đã cho thấy nhiều lợi thế so với phương pháp hóa học và vật lý. Kết quả cho thấy chủng xạ khuẩn được định danh là Streptomyces macrosporeus và hoạt độ tương đương chitosan của chủng này là 24+-0,05 U/ml. Chủng xạ khuẩn sử dụng được định danh dựa trên trình tự 16S rDNA. Khả năng sinh tổng hợp enzyme của chủng này được định tính bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch, sau đó được định lượng dựa trên lượng đường khử bằng cách sử dụng thuốc thử dinitrosalicylic acid (DNS).
Số hóa trong lĩnh vực du lịch đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Trong bối cảnh covid-19, chuyển đổi số gắn với chuyển đỏi số gắn với chuyển đổi mô hình kinh doanh du lịch là giải pháp quan trọng trong việc tái cấu trúc kinh doanh, đẩy mạnh phát triển du lịch nội địa để thích ứng với trạng thái bình thường mới và sẵn sàng mở đón khách du lịch nước ngoài ngay khi điều kiện cho phép