Quy định về giám hộ cho người chưa thành niên đã bộc lộ những khiếm khuyết nhất định trong quá trình thực hiện pháp luật, điển hình là xét xử các vụ án do người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội. Bài viết phân tích một số vấn đề lí luận về người chưa thành niên, giám hộ cho người chưa thành niên; thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về giám hộ người chưa thành niên; kiến nghị hoàn thiện cơ chế xác định người giám hộ cho người chưa thành niên, đặc biệt là giám hộ của người chưa thành niên từ chối giám hộ và người giám hộ của người chưa thành niên là pháp nhân.
Mục tiêu của nghiên cứu này, nhằm xem xét ảnh hưởng của kế toán sáng tạo (KTST) đến độ tin cậy của báo cáo tài chính (BCTC) dựa trên quan điểm của kế toán viên. Dữ liệu được thu thập thông qua mẫu khảo sát của 116 kế toán viên, tại các doanh nghiệp. Kết quả phân tích cho thấy, kỹ thuật KTST ảnh hưởng tiêu cực đến độ tin cậy của BCTC. Ngoài ra, vai trò của kiểm toán viên, chuẩn mực đạo đức, đặc điểm thông tin kế toán ảnh hưởng tích cực đến độ tin cậy của BCTC.
Mục đích của nghiên cứu này là xem xét các tài liệu hiện có về kế toán quản trị môi trường (EMA) và một số khuyến nghị về hướng phát triển EMA, tại Việt Nam. Phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu để thống kê, phân tích cũng như đánh giá tổng quan các nghiên cứu về EMA hiện nay trên thế giới, từ đó có những định hướng thực hiện EMA tại Việt Nam.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nói riêng, trong đó lĩnh vực kế toán cũng không nằm ngoài xu hướng, số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, đồng nghĩa với nhu cầu nhân lực kế toán ngày càng lớn. Việc nhận diện các yếu tố về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành kế toán sẽ là yếu tố cần thiết để đánh giá việc đáp ứng yêu cầu, trong cả khía cạnh đào tạo và tuyển dụng từ các doanh nghiệp. Chính vì vậy, bài viết trình bày nghiên cứu tổng quan về kỳ vọng của người sử dụng lao động, cùng với nhận thức của người học về kỹ năng và kiến thức của sinh viên ngành kế toán, kiểm toán. Từ việc tổng quan các nghiên cứu tiền nhiệm, là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu về khoảng cách đánh giá giữa nhà tuyển dụng và sinh viên ngành kế toán, trong các nghiên cứu tiếp theo.
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính là nội dung đặc biệt quan trọng và là điều kiện then chốt, để các đơn vị sự nghiệp công lập như các bệnh viện (BV), quản lý chi tiêu tài chính có hiệu quả và huy động được sự đóng góp của xã hội, để phát triển hoạt động sự nghiệp. Bài viết này phân tích thực trạng quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại BV Nội tiết Thanh Hóa, qua giai đoạn từ 2019 đến năm 2021. Từ đó, nghiên cứu đã chỉ ra được một số kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cũng như đề xuất bốn nhóm giải pháp, nhằm đẩy mạnh việc thực hiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại BV Nội tiết Thanh Hóa trong thời gian tới.
Bài viết nhằm mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) tại các Kho bạc Nhà nước (KBNN) trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Dữ liệu được thu thập từ một mẫu ngẫu nhiên tại KBNN Bình Thuận và các KBNN cấp huyện của tỉnh Bình Thuận. Bằng việc sử dụng kết pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhân tố gồm: cam kết của Nhà nước quản lý; khả năng sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) của nhân viên kế toán (NVKT); khả năng đáp ứng của phần mềm và các trình ứng dụng kế toán; chất lượng dữ liệu kế toán; huấn luyện và đào tạo NVKT; thủ tục kiểm soát nội bộ; sự đồng thuận của người sử dụng đều có ý nghĩa thống kê, và đều có tác động cùng chiều đến tổ chức HTTTKT của các đơn vị.
Doanh thu (DT) luôn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất mà các đối tượng có nhu cầu sử dụng thõng tin quan tâm. Tại các doanh nghiệp (DN) thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), các nhà quản trị đểu nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc phân tích DT. Tuy nhiên, việc phân tích DT của các DN vẫn tồn tại hạn chế. Bài viết này sẽ trình bày một số tồn tại về việc phân tích DT, từ đó đề xuất giải pháp.
Mục đích của nghiên cứu, nhằm xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chiến lược (KTQTCL) tại các doanh nghiệp (DN) tỉnh Bình Định. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bao gồm kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy tuyến tính với công cụ hỗ trợ là phần mềm SPSS 20. Cỡ mẫu trong nghiên cứu là 110 DN, tại tỉnh Bình Định. Kết quả kiểm định cho thấy, có 5 nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQTCL tại các DN tỉnh Bình Định gồm: (1) Quy mộ (QM); (2) Văn hóa (VH); (3) Phân quyển (PQ); (4) Công nghệ thông tin (CN); (5) Cạnh tranh (CT). Kết quả nghiên cứu ngụ ý rằng, các DN cần xây dựng VH, cơ cấu bộ máy quản lý theo hình thức PQ, vận dụng yếu tố công nghệ để có thể vận dụng KTQTCL thành công nâng cao kết quả kinh doanh và thành quả hoạt động của DN.
Trong thời đại 4.0 hiện nay, dưới những áp lực về thể chế và cạnh tranh, các trường đại học cần phải có sự thay đổi toàn diện để nâng cao chất lượng giáo dục. Để nâng cao được chất lượng đào tạo các trường đại học, cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, trong đó phải có sự thay đổi toàn diện về hệ thống thông tin kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị (KTQT). Những năm sắp tới, theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021, các trường đại học công lập (ĐHCL) trong nước sẽ phải tự chủ về tài chính thi việc quản trị tài chính một cách hiệu quả lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bài viết này sẽ tìm hiểu và nghiên cứu khám phá về các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT tác động đến hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL, tại Việt Nam. Quy trình nghiên cứu định tính sẽ được tiến hành, bằng cách thảo luận và phỏng vấn sâu với các chuyên gia đang công tác tại các trường ĐHCL. Việc nghiên cứu này, nhằm nhận diện ra các yếu tố của mức độ vận dụng KTQT trong các trường ĐHCL tại Việt Nam và từ đó xem xét mức độ tác động của nó đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường ĐHCL tại Việt Nam như thế nào?.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường toàn cầu và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (DN) ngày càng khốc liệt hơn, quá trình quản lý và điều hành DN cần phải có sự thay đổi, để thích ứng hơn với bối cảnh đó. Điều này đòi hỏi, DN phải có những thay đổi để kiểm soát và giảm chi phí, từ đó nâng cao được lợi thế cạnh tranh của DN mình. Sự thay đổi của các kỹ thuật kế toán quản trị (KTQT) là sự cải tiến, để phù hợp với sự thay đổi của môi trường bên trong và môi trường bên ngoài DN. Bài viết này, nhằm đưa ra những thảo luận về sự thay đổi của KTQT, cụ thể với hệ thống kế toán chi phí dựa trên hoạt động (Activity Based Costing - viết tắt là hệ thống ABC) được coi là một sự thay đổi tiến bộ của KTQT. Với mục tiêu đó, bài viết sẽ tổng hợp tình hình nghiên cứu về phương pháp này trên toàn cầu, khái quát về tỷ lệ áp dụng cũng như những vấn đề liên quan như các nhân tố ảnh hưởng, lợi ích và thách thức khi áp dụng ABC. Để từ đó, đưa ra các đề xuất cho hướng nghiên cứu và áp dụng phương pháp này, trong tương lai.