Trong bài viết này, các tác giả phân biệt giữa phủ định ngôn ngữ, phủ định lôgic và bác bỏ câu, một loại phủ định siêu ngôn ngữ điển hình trong tiếng Việt. Câu bác bỏ là một hành động hỏi cung bằng ngôn ngữ gián tiếp. Mọi người đặt câu hỏi - bác bỏ mọi thứ mà người nói cho là sai, từ điều hiển nhiên đến ngụ ý, từ tổng thể đến từng chi tiết. Vì vậy, các kiểu câu bác bỏ trong tiếng Việt rất phong phú. Nhiều loại phản bác đã được điều tra. Người Việt Nam thường dùng câu hỏi để bác bỏ.
Qua khảo sát một cách hệ thống một số tập thơ của Chế Lan Viên, bài viết đi sâu làm nổi bật phong cách thơ Chế Lan Viên cũng như sự vận động của tư duy sáng tạo, tư duy triết học trong thơ ông. Qua đó làm rõ, Chế Lan Viên là một nhà thơ có tư tưởng đầy mâu thuẫn và phúc tạp, người không biết mệt mỏi trong cuộc hành trình “đi tìm mặt” của chính mình. Ngoài ra, bằng phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại, bài viết cũng chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của phong cách thơ Chế Lan Viên với các tác giả cùng thời và khác thời ông. Đồng thời bài viết khám phá một Chế Lan Viên có nghệ thuật viết độc đáo, thống nhất trong đa dạng, một “gương mặt thơ” điểm hình của nền thơ hiện đại Việt Nam.
Thơ luật có một vai trò quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Du. Từ đặc điểm của thơ luật là thế giới đối xứng, ông đã dựng nên một thế giới thơ ca đóng khép đậm chất hướng nội trữ tình. Ông cũng đã thể hiện tài năng thơ ca qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ độc đáo trên các cấp độ âm điệu, từ ngữ, cú pháp… để lại những tác phẩm trường tồn với thời gian.
Giới thiệu khuynh hướng nghiên cứu này với những phác thảo về tiềm năng của sự kết hợp giữa hai ngành tự sự học đồng thời có những chỉ dẫn bước đầu về phương pháp tiếp cận tự sự học xã hội học. Từ đây, cách tiếp cận này hi vọng mở ra góc nhìn đa chiều về sự diễn giải tác phẩm văn chương trong những bối cảnh xã hội nhất định cũng như góp phần lí giải những tiềm năng to lớn từ cấu trúc văn bản tác phẩm đối với mỗi nghiên cứu xã hội học.
Trình bày tổng thuật về những định hướng của tự sự học sinh thái – một nhánh mới phát triển của tự sự học hậu kinh điển. Trên cơ sở tổng thuật lí thuyết, bài báo thể nghiệm việc vận dụng tự sự học sinh thái để phân tích hai truyện ngắn Sầu trên đỉnh Puvan (Nguyễn Ngọc Tư) và Một lần đối chứng (Nguyễn Minh Châu).
Đề xuất một khung lí thuyết của tự sự học xuyên phương tiện. Bên cạnh các công trình lí thuyết then chốt về tự sự học đa/ xuyên phương tiện của Ryan, nghiên cứu cải biên và dịch biên kí hiệu được vận dụng kết hợp như là những khung lí thuyết và phương pháp chủ yếu.
Làm sáng tỏ những phạm trù, những thuộc tính đã gắn kết hai ngành tự sự học và nhân học văn hóa, từ đó xác lập một đường hướng chung về phương pháp tiếp cận của tự sự học nhân học văn hóa trong bối cảnh của Việt Nam hôm nay.
Bài viết chỉ ra: Ngôn ngữ thơ Minh Hiệu là phương tiện để ông gửi gắm những tâm tư tình cảm về con người, quê hương đất nước; Ngôn ngữ thơ Minh Hiệu rất gần với tiếng nói của tầng lớp người dân lao động; Phần lớn từ ngữ trong thơ của ông là từ ngữ thuần Việt được lấy từ đời sống hàng ngày hoặc từ kho tang thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca… Ngôn ngữ thơ ông vì thế gắn với đồng quê và mang nặng tình quê.
Khảo sát cụ thể số lượng vần chân, vần lưng trong thơ Cầm Biêu và phân tích giá trị của chúng trong việc tổ chức, cấu tạo văn bản; nhấn mạnh sự ngừng nhịp và biểu đạt ý nghĩa.
Phân loại theo nội dung của uyển ngữ tiếng Hán và đặc điểm ngữ dụng của uyển ngữ. Thông qua phân tích, bài viết góp phần giúp hiểu sâu sắc hơn về uyển ngữ tiếng Hán. Việc sử dụng đúng uyển ngữ có thể giảm bớt những hiểu lầm của hai bên, tránh làm tổn thương nhau, làm cho giao tiếp thuận lợi.