Từ nay đến năm 2025, để đưa liên kết và hội nhập lên mức độ cao hơn, ASEAN cần thể hiện cam kết và quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa trong tiến trình xây dựng cộng đồng và liên kết khu vực. Hướng tới tầm nhìn cộng đồng ASEAN sau 2025, các nước thành viên cần tăng cường đoàn kết, thống nhất, tin tưởng hơn vào giá trị của ASEAN, tiếp tục gắn bó và phấn đấu vì những mục tiêu chung, hướng tới một cộng đồng không chỉ mang lại lợi ích cho các nước thành viên mà còn tham gia đóng góp tích cực ở cấp độ toàn cầu, góp phần nâng cao hơn nữa hình ảnh, uy tín và vị thế quốc tế của ASEAN, từ đó duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc khu vực ở Châu Á - Thái Bình Dương và rộng lớn hơn là Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Bài viết làm rõ vị trí và tầm quan trọng của Tiểu vùng Mê Công trong chiến lược của các nước lớn trên và cạnh tranh giữa các chủ thể này ở khu vực. Nghiên cứu cho thấy, về tổng thể, Trung Quốc có vị thế, ảnh hưởng lớn và toàn diện hơn Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ ở Tiểu vùng Mê Công. Xu hướng này dẫn đến hệ lụy là môi trường an ninh, sự ổn định, cân bằng chiến lược ở Tiểu vùng sẽ phải đối diện cùng lúc với nhiều nguy cơ, thách thức từ sự cạnh tranh giữa các nước lớn.
Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là vấn đề mà Chính phủ và các nhà nghiên cứu kinh tế rất quan tâm nghiên cứu. Bài báo này phân tích tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2019. Nhờ vận dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ cho số liệu chuỗi thời gian, kết quả cho thấy tại Việt Nam, chi tiêu công (đại diện bởi chi tiêu công cho y tế) có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế (đại diện bởi GDP bình quân đầu người) cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Bài viết lập luận GSI thể hiện nhiều bước chuyển mới trong nhận thức của lãnh đạo Trung Quốc về an ninh trước những biến động khó lường của tình hình quốc tế. Điều này hàm ý trực tiếp đến vấn đề tranh chấp biển đông, nơi Trung Quốc vừa muốn kiểm soát, lại vừa muốn xây dựng giải pháp hòa bình mới với tư cách một nước lớn có trách nhiệm gạt bỏ dần sự can dự và ảnh hưởng của Mỹ.
Sự đổi mới về vai trò của thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường giai đoạn hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi giúp kinh tế tư nhân phát triển và đạt được nhiều thành tựu tốt trong những năm qua. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế tư nhân vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế trong quá trình triển khai hoạt động, bài viết này nhằm đánh giá những thành tựu đạt được của kinh tế tư nhân trong những năm qua, những hạn chế và giải pháp khắc phục.
Với một quốc gia đang phát triển, vay nợ nước ngoài được nhìn nhận như một công cụ hữu hiệu giúp giải quyết các hạn chế tiết kiệm quốc gia cho đầu tư phát triển của nền kinh tế. Với việc quản lý hiệu quả vay nợ nước ngoài đã đưa Việt Nam từ một nước nghèo vay nợ nhiều, đã trở thành một nước được các tổ chức quốc tế đánh giá là có mức nợ nước ngoài bền vững, trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm bị gánh nặng về nợ. Tuy nhiên, đứng trước những thách thức của tình hình vay nợ nước ngoài mới khi mà Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, khuôn khổ chính sách cần phải được hoàn thiện để phù hợp hơn với tính năng động của công tác vay nợ trong tình hình mới.
Từ một số tồn tại trong công tác quản lý thuế, bài viết đề xuất giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn, thách thức do hoạt động thương mại điện tử đặt ra, để từ đó tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử một cách chặt chẽ, công khai, minh bạch và thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, có thể đáp ứng và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam trong tình hình hiện nay.
Bài viết đã xây dựng bộ tiêu chí đo lường sự hài lòng của người khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Việt Nam gồm 15 tiêu chí thuộc 5 nhóm: Khả năng tiếp cận; Sự minh bạch thông tin khám, điều trị; Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người khám chữa bệnh; Thái độ ứng xử và năng lực chuyên môn của nhân viên y tế; Kết quả cung cấp dịch vụ.
Nghiên cứu này tập trung vào phân tích sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân trong các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng. Nghiên cứu cho thấy bổ sung tài chính là yếu tố giúp thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia vào các hình thức đầu tư cơ sở hạ tầng có mức độ chia sẻ rủi ro cao hơn, trong khi tác động của các yếu tố thể chế đến việc quyết định loại hình kết hợp công tư phức tạp hơn, tùy thuộc vào từng nhóm quốc gia có mức thu nhập khác nhau.
Nghiên cứu đã phát triển một thang đo đo lường mức độ tự chủ thực tế của các đơn vị sự nghiệp công lập của Thành phố Hà Nội. Phân tích những kết quả đạt được và những khó khăn trong thực hiện cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập của Thành phố Hà Nội. Kết quả của nghiên cứu góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý hoàn thiện khung pháp lý và tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập của Thành phố Hà Nội.