Bancassurance, dù đã triển khai tại Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XXI nhưng mãi cho đến 4 năm gần đây mới thực sự bùng nổ, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong khối nhân thọ. Không chỉ với các công ty bảo hiểm mà kênh phân phối này còn mang đến cho các ngân hàng tạo ra mức lợi nhuận dương. Song song với mặt tốt, những lợi ích là những mặt xấu, những bất cập đi kèm. Do đó, bài viết sẽ làm rõ những vấn đề trong mặt đối nghịch của kênh phân phối này.
Bài viết đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ thẩm định giá bao gồm các nhân tố khách quan như quy định của nhà nước, hoạt động kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, nguồn dữ liệu về giá và các yếu tố chủ quan gồm năng lực, ý thức của thẩm định viên về giá, quy trình triển khai nghiệp vụ thẩm định giá tại doanh nghiệp, công nghệ và kho dữ liệu riêng của doanh nghiệp thẩm định giá.
Bài viết tập trung nghiên cứu cơ chế xác nhận của Ủy ban Châu Âu đối với việc vận dụng chuẩn mực IFRS đối với các doanh nghiệp trong khu vực, từ đó đưa ra các gợi ý cho Việt Nam trong quá trình xây dựng chính sách về áp dụng IFRS tại Việt Nam.
Bài viết trình bày thực trạng hoạt động của hệ thống kế toán tại công ty TNHH Malugo Việt Nam, phân tích ưu điểm và hạn chế của hệ thống kế toán này và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống kế toán cho công ty TNHH Malugo Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nói chung.
Bài viết sử dụng biến trễ GRDP là biến độc lập trong mô hình kinh tế lượng các yếu tố quyết định của thu hút FDI vào các tỉnh/thành phố trực thuộc vùng ven biển của nước ta trong giai đoạn 2010 – 2020. Biến trễ của FDI cũng được sử dụng như là biến thể độc lập trong mô hình ước lượng để xem xét đo lường mức độ ảnh hưởng của vốn đầu tư FDI kỳ trước tới việc thu hút vốn đầu tư FDI vào 28 tỉnh và thành phố trực thuộc vùng ven biển Việt Nam trong cùng kỳ.
Bài viết nêu thực trạng và hạn chế của cơ sở vật chất ngành quản trị kinh doanh và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu đào tạo ngành quản trị kinh doanh trong bối cảnh chuyển đổi số.
Một trong những đầu mối cung cấp thông tin trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại chính là phòng kế toán với các thông tin kế toán. Với chức năng thu thập, ghi nhận, lưu trữ và xử lý dữ liệu kế toán cũng như các dữ liệu liên quan khác để tạo ra những thông tin kế toán tài chính hữu ích phục vụ cho việc ra quyết định, phòng kế toán của các doanh nghiệp thương mại phải chủ động thiết lập tổ chức thông tin kế toán gắn với các hoạt động của đơn vị mình; tổ chức hệ thống thông tin kế toán có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý tài chính của bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh thương mại nào.
Những năm gần đầy, ứng dụng thương mại điện tử (TMĐT) chính là dấu ấn của nền kinh tế số trong đời sống của người dân Việt Nam. Theo báo cáo Thương mại điện tử của các tổ chức uy tín thế giới, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường TMĐT phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á. Để phát huy những lợi thế đó, đòi hỏi Việt Nam cần nâng cao năng lực quản lý và tổ chức hoạt động thương mại điện tử, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng số hóa, hiện đại và bền vững.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự thỏa mãn của người sử dụng (nhân viên kế toán) có tác động đến kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin; các yếu tố gồm sự ủng hộ của nhà quản trị cấp cao và việc đào tạo cho nhân viên kế toán trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin có tác động đến sự thỏa mãn của nhân viên kế toán vào quá trình ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp và sự truyền thông trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao kết quả công việc của nhân viên kế toán trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin.