Dữ liệu lớn là một trong những khía cạnh được quan tâm, của quá trình chuyển đổi số. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, việc ứng dụng dữ liệu lớn dã làm thay đổi công việc kế toán, kiểm toán: kế toán từng bước vượt ra khỏi phạm vi là hoạt động ghi chép và phản ánh thông tin, thay vào đó là vai trò tư vấn và khả năng tư duy chiến lược, hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc ra quyết định; đối với lĩnh vực kiểm toán thì chất lượng báo cáo kiểm toán sẽ được nâng cao, nhờ vào việc sử dụng thông tin từ dữ liệu lớn
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đều có qui định về "phần" bản án sơ thẩm nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm mà không bị kháng cáo, kháng nghị thì sẽ phát sinh hiệu lực và có giá trị thi hành. Qua một tình huống thực tiễn minh họa, bài viết phân tích, luận giải về việc từ chối thi hành án trong trường hợp này cần phải được xem xét thận trọng vì có thể xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của đương sự.
Bài viết xem xét khái niệm giải quyết tranh chấp trực tuyến và phân tích để thấy giải quyết tranh chấp trực tuyến là lựa chọn tốt để giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng trong lĩnh thương mại điện tử. Bài viết chỉ ra những thuận lợi và khó khăn chính khi sử dụng phương thức trực tuyến giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng trong lĩnh thương mại điện tử ở Việt Nam.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về truyền hình và chương trình truyền hình trong lĩnh vực báo chí, truyền thông tại Việt Nam và trên thế giới, bài viết này tập trung nghiên cứu để làm rõ khái niệm và đặc điểm của chương trình truyền hình dưới góc độ pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả. Từ đó, bài viết đi đến kết luận chương trình truyền hình là một sản phẩm sáng tạo mang những đặc điểm riêng và có thể trở thành một đối tượng bảo hộ của quyền tác giả quyền liên quan đến quyền tác giả.
Bài viết nghiên cứu mối quan hệ, tác động qua lại giữa quyền được sống trong môi trường trong lành và quyền sở hữu, đánh giá thực trạng pháp luật trong việc giải quyết mối quan hệ này, đề xuất quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa quyền được sống trong môi trường trong lành và quyền sở hữu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành.
Trên cơ sở mở rộng mô hình hành vi có hoạch định, kết quả phân tích mô hình SEM với dữ liệu sơ cấp từ 515 khách hàng, chính sách hỗ trợ của Chính phủ, chuẩn chủ quan, thái độ được chứng minh có khả năng thúc đẩy đáng kể dự định hành vi của khách hàng. Ngược lại, rào cản về giá lại được kết luận có vai trò kìm hãm. Từ đó, đưa ra một số hàm ý cho các doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách trong hoạt động phát triển thị trường và xây dựng hệ thống năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Kết quả phân tích dựa trên khảo sát do 285 lãnh đạo các công ty hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy mối quan hệ giữa mục tiêu đa dạng hóa và kết quả hoạt động của công ty không có ý nghĩa thống kê. Đồng thời, năng lực kết nối đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này. Kết quả này đã đóng góp cho lý thuyết về nguồn lực và gợi ý những hàm ý quản trị giúp doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh xây dựng năng lực kết nối, nhằm thúc đẩy kết quả hoạt động của công ty.
Bài viết đánh giá ảnh hưởng của chất lượng thể chế tại Việt Nam đến quyết định lựa chọn nước ta làm địa điểm đầu tư của các doanh nghiệp đa quốc gia (MNC) từ 18 đối tác đầu tư chính trong giai đoạn 2013-2020. Cụ thể, trong khi kiểm soát tham nhũng, ổn định chính trị và chất lượng lập pháp có tác động tích cực đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam, thì trái với dự đoán khi hiệu quả chính phủ và chất lượng hành pháp lại có tác động tiêu cực đến việc thu hút nguồn vốn này.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát 333 người tiêu dùng. Kết quả cho thấy: Thái độ đối với các vấn đề môi trường, Thái độ đối với các lợi ích sinh thái - xã hội, và Thông tin sản phẩm xanh có tác động tích cực đến hành vi tiêu dùng xanh. Kết quả cũng cho thấy mối quan hệ giữa Ý thức môi trường, Thái độ đối với quảng cáo xanh, Thái độ đối với các vấn đề môi trường, Thái độ đối với các lợi ích sinh thái-xã hội. Những phát hiện của nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết có giá trị về tác động của các yếu tố đối với hành vi mua hàng xanh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa trải nghiệm khách hàng và hành vi gắn kết khách hàng thông qua vai trò trung gian của nhận diện khách hàng-nhân viên và nhận diện khách hàng-tổ chức. Từ kết quả tìm thấy, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị trong ngành dịch vụ du lịch sức khoẻ nhằm thiết kế trải nghiệm khách hàng phù hợp để làm gia tăng hành vi gắn kết khách hàng trong bối cảnh hậu Covid-19.